Thời gian là vàng

Thanh Duy xin chào

0 khách và 0 thành viên

Mời Thầy cô dùng trà

Tâm sự với Thanh Duy

Tìm kiếm

Danh lam thắng cảnh

Lịch âm dương

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Phạm Thanh Duy)

Hỗ trợ trực tuyến


Quản trị: Phạm Thanh Duy
0914.083.183

Liên kết website

Từ điển trực tuyến


Tra theo từ điển:


Nghe nhạc trực tuyến

Tin tức

Truyện cười

Thời tiết - Giá vàng

Lời hay - Ý đẹp

Liên kết ứng dụng

Bách khoa toàn thư

Website liên kết

Nhiệt độ - Thời gian

Hà Nội
’Hà
Tp Hồ Chí Minh
’Tp
Cà Mau
’Cà

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý thầy cô đến với website Giáo dục và Cuộc sống của Phạm Thanh Duy

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Văn - Thơ - Âm nhạc Việt Nam >

    Sơ lược tiểu sử nhạc sỹ Đỗ Nhuận


    Đỗ Nhuận (1922 - 1991)

    Đỗ Nhuận (1922 - 1991), ông sinh ngày 10/12/1922, quê ở huyện Cẩm Bình, tỉnh Hải Dương. Đỗ Nhuận sống thời niên thiếu tại Hải Phòng. Ông là học sinh trường Bon - nan(Bonnal). Giữa một thành phố, một ngọn nguồn văn nghệ của đất nước những thập niên đầu thế kỷ XX, cũng như nhiều văn nghệ sĩ nổi tiếng khác, Đỗ Nhuận đã được nơi đây khơi dậy tài năng sáng tạo.

    Cảm hứng âm nhạc của Đỗ Nhuận bắt đầu từ quê hương và gia đình. Quê ông vốn có truyền thống hát chèo. Ngay từ năm 14 tuổi ông đã học âm nhạc dân tộc và biết chơi sáo trúc, tiêu, đàn nguyệt, đàn tứ, đàn bầu. Cha ông là nhạc công kèn Cla ri net(Clarinette) trong đội nhạc binh Khố Đỏ (9 ème R.I.C). Những năm đi học ở Hải Phòng, ông sinh hoạt trong Hướng Đạo sinh, trong các buổi sinh hoạt thường hát những bài hát Pháp và châu Âu. Tiếp đó không khí âm nhạc cải cách bắt đầu ảnh hưởng đến Đỗ Nhuận, ông học đàn Ghi ta, Bănggiô, Vi-ô-lông (Guitare, Banjo, Violon) và ký âm pháp.

    Về ảnh hưởng và tiếp thu âm nhạc châu Âu và Pháp, riêng đối với các nhạc sĩ có tinh thần yêu nước, không thể không kể đến những ca khúc cách mạng của Pháp như Mac xây e và Quốc tế ca.

    Sau các nhạc sĩ tân nhạc Việt Nam tiên phong như Nguyễn Xuân Khoát, Đặng Thế Phong, Lê Thương, Hoàng Quý, Dương Thiệu Tước, Văn Cao, Lưu Hữu Phước... lớp thứ hai xuất hiện với Đỗ Nhuận, Nguyễn Văn Thương, Phạm Duy, Lương Ngọc Trác. Song khác với phần đông các nhạc sĩ có khuynh hướng lãng mạn, Đỗ Nhuận giống Lưu Hữu Phước, vào âm nhạc bằng những bài ca yêu nước. Năm 1939 Đỗ Nhuận viết ca khúc đầu tiên khi mới ở tuổi 17: Trưng Vương, nhằm ngày kỷ niệm Hai Bà Trưng ở Hải Dương. Ca khúc được phổ biến rộng rãi và xuất bản ngay. Trong các năm 1940 1941, Đỗ Nhuận dồn sức hoàn thành ca cảnh Nguyễn Trãi Phi Khanh (gồm 3 ca khúc Chim than, Lời cha già, Đường lên ải Bắc). Chính do những bài hát này và một số hoạt động yêu nước trong thời gian ở Hải Phòng và một số nơi khác Đỗ Nhuận đã bị thực dân Pháp bắt đi đày ở Sơn La năm 1943. Tuy nhiên sự cầm tù ấy càng làm Đỗ Nhuận gắn bó với cách mạng hơn. Chỉ một năm trong tù một loạt ca khúc đã ra đời: Chiều tù, Côn Đảo, Hận Sơn La, Tiếng gọi tù nhân (lời Đào Duy Từ), Viếng mồ tử sĩ.

    Ra tù cảm hứng về rừng núi, về chiến khu và cách mạng đã giúp Đỗ Nhuận hoàn thành các ca khúc hừng hực khí thế tiến tới Tổng khởi nghĩa tháng Tám: Du kích ca (1944), Nhớ chiến khu (1945).

    Sau cách mạng tháng Tám, trước việc thực dân Pháp gây hấn ở Nam Kỳ, Đỗ Nhuận đã có ngay ca khúc Tiếng súng Nam bộ, Tiếng hát đầu quân và Đoàn lữ nhạc.

    Trong kháng chiến chống Pháp, với ngôn ngữ âm nhạc độc đáo, chiếm một vị trí đặc biệt trong nền âm nhạc Việt Nam, Đỗ Nhuận đã viết nhiều tác phẩm gây ấn tượng mạnh mẽ, thúc giục cả dân tộc vững bước trong cuộc kháng chiến trưòng kỳ: Bên cạnh Áo mùa đông đằm thắm trữ tình là Ca ngợi Hồ Chủ Tịch (1951) trang trọng; bên cạnh Sóng cả không ngã tay chèo, chân chất mộc mạc là Du kích sông Thao (1949) cuồn cuộn hoành tráng. Đặc biệt là bộ sử thi âm thanh về trận Điện Biên Phủ lịch sử: Hành quân xa (1953), Trên đồi Him Lam (1954), Chiến thắng Điện Biên (1954).

    Sau hoà bình lập lại, Đỗ Nhuận trở thành Tổng thư ký đầu tiên của Hội nhạc sĩ Việt Nam và giữ chức vụ này trong hai khoá I và II (1957 1983). Các nhạc sĩ đầu tiên của tân nhạc Việt Nam đều tự học thành tài. Đỗ Nhuận là nhạc sĩ duy nhất của thế hệ sau này được đi tu nghiệp đại học tại nhạc viện Tchaikovsky, Liên Xô, từ 1960 1963. Nhờ vậy Đỗ Nhuận có cơ hội và cơ sở để bước vào thời kỳ rực rỡ nhất trong sáng tác nghệ thuật. Ông đi sâu vào nhạc kịch một thể loại còn khá mới mẻ với âm nhạc Việt Nam. Ban đầu là những thể nghiệm nhỏ như: Ông Đá, Chú Tễu, Ai đẹp hơn ai, Trước giờ cưới, Quả dưa đỏ...sau đó đến những tác phẩm lớn. Đỗ Nhuận là nhạc sĩ Việt Nam đầu tiên viết Ô-pê-ra (Opéra) với Cô Sao (1965), Người tạc tượng (1971). Ông còn viết nhiều tác phẩm khí nhạc, trong đó có Vũ khúc Tây Nguyên cho Viôlông và dàn nhạc đã trở thành một tác phẩm có giá trị kinh điển.

    Mặc dù dồn nhiều công sức cho các tác phẩm lớn, Đỗ Nhuận vẫn dành nhiều thời gian viết ca khúc một thể loại gần gũi với quần chúng và chính ở đây, tên tuổi ông lưu lại mãi với các tác phẩm được viết trong những năm 60,70: Em là thợ quét vôi, Tôi thích thể thao (bài hát toàn chữ T), Việt Nam quê hương tôi, Đường bốn mùa xuân, Người chiến thắng là anh, viết cùng thầy Phêrê (V. Fére), Giặc đến nhà ta đánh, Vui mở đường, Trống hội tòng quân, Trai anh hùng gái đảm đang, Hát mừng các cụ dân quân, Trông cây lại nhớ đến người( cải biên hò ví dặm), Bài ca cách mạng tiến quân... Cùng với những ca khúc của các nhạc sĩ khác, ca khúc của Đỗ Nhuận đã đóng góp không nhỏ vào việc cổ vũ toàn dân toàn quân trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Miền Bắc, đấu tranh giải phóng Miền Nam, thống nhất đất nước.

    Những năm sau thống nhất đất nước, Đỗ Nhuận lâm bệnh nên sáng tác thưa dần. Ông dành tâm sức truyền lại cho thế hệ sau này trong đó có con trai đầu của ông, nhạc sĩ Đỗ Hồng Quân.

    Âm nhạc của Đỗ Nhuận giàu bản sắc dân tộc, phong phú về chất liệu, ngôn ngữ biểu hiện giản dị, mộc mạc trữ tình, đằm thắm đồng thời hóm hỉnh, mặn mà. Nhạc sĩ đã được nhận nhiều huân chương cao quý, đặc biệt là Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt I truy tặng, 1996).

    Đỗ Nhuận có quan hệ mật thiết với nhà văn Nguyên Hồng, vợ ông là em ruột bà Nguyên Hồng và Vũ Quý một chiến sĩ cộng sản đã giúp ông đi theo cách mạng. Ông mất ngày 18/5/1991 tại Hà Nội.


    Nhắn tin cho tác giả
    Phạm Thanh Duy @ 22:19 12/11/2010
    Số lượt xem: 944
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến