Thời gian là vàng

Thanh Duy xin chào

1 khách và 0 thành viên

Mời Thầy cô dùng trà

Tâm sự với Thanh Duy

Tìm kiếm

Danh lam thắng cảnh

Lịch âm dương

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Phạm Thanh Duy)

Hỗ trợ trực tuyến


Quản trị: Phạm Thanh Duy
0914.083.183

Liên kết website

Từ điển trực tuyến


Tra theo từ điển:


Nghe nhạc trực tuyến

Tin tức

Truyện cười

Thời tiết - Giá vàng

Lời hay - Ý đẹp

Liên kết ứng dụng

Bách khoa toàn thư

Website liên kết

Nhiệt độ - Thời gian

Hà Nội
’Hà
Tp Hồ Chí Minh
’Tp
Cà Mau
’Cà

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý thầy cô đến với website Giáo dục và Cuộc sống của Phạm Thanh Duy

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Văn - Thơ - Âm nhạc Việt Nam >

    NHÀ THƠ TỐ HỮU


    1. Tiểu sử:
    Tố Hữu (1920 – 2002) tên thật là Nguyễn Kim Thành, quê tại làng Phù Lai, huyện Quảng Ðiền, tỉnh Thừa Thiên (nay là Thừa Thiên Huế). Truyền thống văn hóa, văn chương của quê hương và gia đình là những nhân tố quan trọng trong sự hình thành hồn thơ Tố Hữu.

    - Năm lên 12 tuổi, mẹ mất. Năm 13 tuổi, vào trường Quốc học (Huế). Tại đây, được trực tiếp tiếp xúc với tư tưởng Cộng sản qua sách báo tiến bộ của Mác, Ăngghen, Lênin, Hồ Chí Minh, Goocki... kết hợp với sự vận động, giác ngộ của các Ðảng viên ưu tú bấy giờ (Lê Duẩn, Phan Ðăng Lưu, Nguyễn Chí Diểu), người thanh niên Nguyễn Kim Thành sớm nhận ra lý tưởng đúng đắn. Gia nhập Ðoàn thanh niên, hăng hái hoạt động, được kết nạp Ðảng năm 1938.

    - Tháng 4/1939, bị bắt, bị tra tấn dã man và đày đi nhiều nhà lao. Trong tù, người chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi luôn giữ vững khí tiết, tiếp tục hoạt động cách mạng ở mọi hoàn cảnh.

    - Cuối 1941, vượt ngục (về hoạt động bí mật ở Hậu Lộc - Thanh Hóa). Khi Cách mạng tháng Tám bùng nổ, là Chủ tịch Ủy ban khởi nghĩa của thành phố Huế. Năm 1946, là bí thư Tỉnh ủy Thanh Hóa. Cuối 1947, lên Việt Bắc làm công tác văn nghệ, tuyên huấn. Từ đó, luôn giữ những trọng trách trong công tác văn nghệ, trong bộ máy lãnh đạo Ðảng và nhà nước (1948 : Phó tổng thư ký Hội Văn nghệ Việt Nam; 1963 : Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam; tại đại hội Ðảng lần II/02-1951: Ủy viên dự khuyết Trung ương; 1955 : Ủy viên chính thức; tại đại hội Ðảng lần III/09-1960: vào Ban Bí thư; tại đại hội Ðảng lần IV/1976: Ủy viên dự khuyết Bộ Chính trị, Bí thư Ban chấp hành Trung ương, Trưởng ban Tuyên truyền Trung ương, Phó Ban Nông nghiệp Trung ương; từ 1980: Ủy viên chính thức Bộ Chính trị; 1981: Phó Chủ Tịch Hội đồng Bộ Trưởng).

    2. Tác phẩm:

    - Thơ: Từ ấy (1946), Việt Bắc (1954), Gió lộng (1961), Ra trận (1972), Máu và Hoa (1977) ; Một tiếng đờn (1993).

    - Tiểu luận : Xây dựng một nền văn nghệ lớn xứng đáng với nhân dân ta, với thời đại ta (1973), Cuộc sống cách mạng và văn học nghệ thuật (1981).

    TỪ ẤY :

    - Tập thơ đầu tay, gồm 71 bài, sáng tác trong 10 năm (1936-1946). Chia thành ba phần, phản ánh rõ nét quá trình giác ngộ và trưởng thành của người chiến sĩ cộng sản trẻ tuổi.

    Máu lửa: 27 bài, là thơ của thời kỳ Mặt trận Dân chủ ; tập trung vào những vấn đề lớn của thời đại như chống phát xít, phong kiến; đòi hòa bình, cơm áo ; vấn đề quyền sống con người và cách mạng giải phóng dân tộc.

    Xiềng xích: 30 bài, viết trong tù; thể hiện nỗi buồn đau và ý chí, khí phách của người chiến sĩ cách mạng trong chốn lao tù.

    Giải phóng: 14 bài, viết từ lúc vượt ngục đến một năm sau ngày độc lập ; chủ yếu ngợi ca lý tưởng, quyết tâm đuổi giặc, cứu nước và niềm vui chiến thắng.

    - Những bài thơ tiêu biểu: Mồ côi; Hai đứa bé; Ði đi em; Vú em; Dửng dưng; Tiếng hát sông Hương; Từ ấy; Tâm tư trong tù; Trăng trối; Dậy mà đi; Hồ Chí Minh; Vui bất tuyệt,....

    VIỆT BẮC

    - Sáng tác chủ yếu trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1946-1954), gồm 24 bài (trong đó có 06 bài dịch, 03 bài sáng tác sau 1954).  à bức tranh tâm tình của con người Việt Nam trong kháng chiến, thể hiện quyết tâm bảo vệ sự toàn vẹn của đất nước. Cuộc kháng chiến thật nhộn nhịp, hồ hởi nhưng vô cùng gian khổ, đau thương. Nổi bật nhất là hình ảnh quần chúng nhân dân, những người gánh cả cuộc kháng chiến trên vai: anh Vệ quốc quân, em bé liên lạc... Trên hết là hình ảnh Bác Hồ, lãnh tụ kính yêu - vừa cao cả, lớn lao vừa bình dị, gần gũi.

    - Những bài thơ tiêu biểu : Phá đường, Bà mẹ Việt Bắc ; Bầm ơi ; Lượm ; Sáng tháng Năm ; Hoan hô chiến sĩ Ðiện Biên ; Việt Bắc ; Ta đi tới.

    GIÓ LỘNG

    - Gồm 25 bài, sáng tác trong 06 năm (1955-1961); tập trung vào hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh chống Mỹ Ngụy, thống nhất đất nước ở miền Nam.

    - Những bài thơ tiêu biểu: Trên miền Bắc mùa xuân; Với Lê Nin; Người con gái Việt Nam; Thù muôn đời muôn kiếp không tan; Em ơi... Ba Lan; Ba mươi năm đời ta có Ðảng; Tiếng ru; Bài ca xuân 1961; Mẹ Tơm.

    RA TRẬN

    - Gồm 31 bài, sáng tác trong 10 năm chống Mỹ (1962-1971).

    - Hai dòng thơ mở đầu (ở bài thứ nhất) thể hiện cảm hứng chủ đạo của cả tập thơ :

    Tôi muốn viết những dòng thơ tươi xanh
    Vẫn nóng viết những dòng thơ lửa cháy

    - Những bài thơ tiêu biểu: Có thể nào yên; Miền Nam; Trên đường thiên lý; Hãy nhớ lấy lời tôi; Tiếng hát sang xuân; Chiếc áo xanh; Mẹ Suốt; Êmily, con...; Kính gửi cụ Nguyễn Du; Tấm ảnh; Bác ơi; Theo chân Bác.

    MÁU VÀ HOA

    - Gồm 13 bài, sáng tác trong 06 năm (1971-1977); có ý nghĩa tổng kết quá trình phát triển của dân tộc, của Cách mạng Việt Nam - một hành trình đầy máu, đầy hoa:

    Máu: biểu tượng của nỗi đau uất hận trong hàng nghìn năm nô lệ và sự hi sinh, xả thân vì nghĩa lớn, xối máu nóng rửa vết nhơ nô lệ.

    Hoa : biểu tượng cho vẻ đẹp của lý tưởng cộng sản, của chủ nghĩa anh hùng và niềm vui ngày chiến thắng.

    - Những bài thơ tiêu biểu : Việt Nam máu và hoa ; Nước non ngàn dặm; với Ðảng, mùa xuân; Một khúc ca xuân.

    MỘT TIẾNG ÐỜN

    - Gồm 72 bài, xuất bản năm 1993 ; là những dòng tâm tư, trăn trở từ mạch cảm xúc trong thời hòa bình. Ðề tài thơ phong phú, đa dạng : ngợi ca vẻ đẹp của quê hương, con người; công cuộc xây dựng đất nước đầy phức tạp; tình yêu và số phận con người ...

    - Những bài thơ tiêu biểu : Một khúc ca ; Ðêm cuối năm ; Ðêm thu quan họ; Ðảng và thơ ; Một tiếng đờn ; Lạ chưa ? ; Xuân hành 92 ; Ta lại đi ; Anh cùng em.

    Nhắn tin cho tác giả
    Phạm Thanh Duy @ 18:51 08/11/2011
    Số lượt xem: 1176
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến