Thời gian là vàng

Thanh Duy xin chào

1 khách và 0 thành viên

Mời Thầy cô dùng trà

Tâm sự với Thanh Duy

Tìm kiếm

Danh lam thắng cảnh

Lịch âm dương

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Phạm Thanh Duy)

Hỗ trợ trực tuyến


Quản trị: Phạm Thanh Duy
0914.083.183

Liên kết website

Từ điển trực tuyến


Tra theo từ điển:


Nghe nhạc trực tuyến

Tin tức

Truyện cười

Thời tiết - Giá vàng

Lời hay - Ý đẹp

Liên kết ứng dụng

Bách khoa toàn thư

Website liên kết

Nhiệt độ - Thời gian

Hà Nội
’Hà
Tp Hồ Chí Minh
’Tp
Cà Mau
’Cà

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý thầy cô đến với website Giáo dục và Cuộc sống của Phạm Thanh Duy

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Văn - Thơ - Âm nhạc Việt Nam >

    Nguyễn Hữu Nhàn - Nhà văn của làng quê

    ng huu nhan Nguyễn Hữu Nhàn tuổi Mậu Dần, sinh ở làng Tứ Xã huyện Lâm Thao tỉnh Phú Thọ. Đó là một làng khá đặc biệt, rất lớn, có tới hàng vạn dân; là một ốc đảo ngôn ngữ, hiện vẫn sử dụng nhiều cổ ngữ làm đại danh từ như bủ, mọ chỉ người già, ông nguay là đại từ ngôi thứ hai, dù người đó là đàn bà hay con trẻ. Cách phát âm rất khó nghe, mới nghe rất khó hiểu, đi vài bước chân sang làng bên cạnh thì ngữ điệu đã khác hẳn. Cùng với phương ngữ, Tứ Xã bảo tồn hầu như nguyên vẹn các trò chơi của lễ hội dân gian từ thời Văn Lang còn là kinh đô của nước Nam. Có lẽ những đặc sắc ấy của làng quê làm nên sự độc đáo của văn phong Nguyễn Hữu Nhàn và biến ông từ một nhà văn thành nhà nghiên cứu văn hoá dân gian.

    Lược đi đây đó những dễ dãi và chủ quan về nhân vật nhiều khi thành biếm hoạ, các nhân vật nông thôn và đặc biệt khí vị văn Nguyễn Hữu Nhàn hồn nhiên sinh động hẳn sẽ có sức sống lâu bền như văn hoá làng Tứ Xã quê ông.

    PHỐ LÀNG

    Xúng xính trong bộ vét tông vải tàu mới cứng màu hạt dẻ, lão Tất xua đàn bò lớn bé hơn hai mươi con đi dọc theo phố làng để vào thả trong chân núi Vua. Khi con bò cái tạt đến sạp hàng gí mũi ngửi vào những chai cô ca và bia Tàu, lão kéo dài cần ăng ten máy điện thoại cầm tay thay cái roi tre xua con bò nhập vào đàn. Miệng lão “hầy hầy” liên tục hét vang cả phố làng trong tiếng rầm rập của những cặp móng bò gõ xuống mặt đường nhựa trốc lở bong lên lổn nhổn tinh những đá dăm và đá củ đậu. Phố làng lớn nhanh đến tối mắt với kiến trúc tạp nham nhà mái bằng mái lệch, mái ngói, mái tôn, tường đắp trát vẽ vời lòe loẹt, nhiều nhà ốp cả gạch lát nền lên mặt tiền tầng hai để khoe mẽ với dân làng. Nhìn hai dãy phố ngợp hàng hóa, lão Tất khịt khịt mũi, nghĩ thầm: “Giàu có chúng mày không bằng một góc của ông”. Thừa nhận lão Tất giàu nhất làng Mon. Cái phố làng mọc lên cũng nhờ công đầu của lão. Lão biết thế mạnh làng mình nhờ có đường liên tỉnh chạy qua. Mới đây người ta lại đánh con đường liên huyện cắt ngang đường nhựa ở gần đền Thánh Mẫu có tiếng linh thiêng mà mấy năm lại đây khách thập phương qua lại cầu cúng ngày càng đông. Ngành giao thông đặt một bãi đỗ xe khách; ngành xăng dầu xây một cây xăng, thế là quán trọ, hàng ăn, hàng giải khát, có cả bia ôm, quán ka-ra-ô-kê, hàng tiết canh lòng lợn… gọi là không thiếu thứ gì ngoài tỉnh mà phố làng này không có. Nhờ có anh con cả là liệt sĩ, cô con gái út được đi lao động bên Đức đều đặn gửi các thùng hàng về nên lão Tất có dư dật vốn. Lão mua hẳn một vạt đất ven đường gần ngã tư đền Thánh Mẫu để làm nhà và cho thuê mở quán bán hàng. Phố xá dần dần hình thành. Giá đất ngày càng đắt. Đám đất ven đường lão Tất mua được với giá rẻ bỗng chốc thành món lãi kếch sù. Lão bán bớt một nửa thu hơn hai trăm triệu đồng. Lão xây ở phần đất còn lại một ngôi nhà hai tầng, có một gian lên ba tầng cao nhất phố làng. Lão xây tường bao phần đất còn lại vừa để giữ đất vừa làm chuồng bò. Đàn bò dự định nâng lên đến bốn mươi con nái, mỗi năm sinh bốn chục bò con, sẽ cho lão ba bốn chục triệu mà chả phải tốn kém cám bã như nuôi gà nuôi lợn. Lão thuê đóng hẳn một dãy chuồng nuôi trăm đôi chim bồ câu. Thế là bò thì ăn cỏ trên núi, chim ra đồng, lên nương ăn thóc lúa của làng, hết mùa lúa thì lên rừng ăn sâu bọ là chính, cứ bốn mươi nhăm ngày chim mẹ đẻ ra đôi chim con chẳng cày cuốc nào lãi bằng. Từ trong quán lòng lợn tiết canh vẳng ra tiếng gọi: – Cho nhờ cú phôn ra tỉnh với mọ Tất ơi! – Ở đây người ta đều gọi các ông già bà lão từ sáu mươi tuổi đổ lên là “mọ”. Lão Tất rẽ vào ngay, chìa máy ra, nói: – Xì tiền ra thì bấm máy thôi. Gọi ra tỉnh năm ngàn một phút, gọi vào Sài Gòn giá khác, gọi sang Tây giá khác. – Tài quá nhỉ, chả phải dây dợ gì mà nói đi khắp thế giới. – Nói cho anh biết, trừ ông lãnh đạo to trên tỉnh tôi không biết chứ ở huyện này mỗi tôi dám dùng cái tạng máy này. Hơn chục triệu chứ đâu phải đùa. – Thế thì cháu không có tiền gọi đâu, xin lỗi mọ. – Mẹ nhà anh chứ, mất thì giờ. Lão thốc tháo chạy đuổi theo đàn bò đã đến gần chỗ ngoặt cuối phố rẽ vào núi Vua. Con bò cái đi cuối đàn dừng lại giạng hai chân sau, vểnh đuôi lên. Lão vội vàng rút trong túi áo vét ra cuộn túi bóng nhựa, lọc lấy một cái, mở banh miệng túi úp vào đít bò. Sau đấy lão túm túi phân bò nóng bay hơi để vào gốc cây ngõa đầu quán cắt tóc. Lão nhe nhẻn cười với anh thợ cắt tóc. – Tớ gửi đằng ấy cái túi chốc nữa mang về, nhá. – Có ma toi thèm lấy của mọ. Ô uế cả phố xá. Thực ra lão đã có kế hoạch kinh doanh phân bò, phân chim. Lão nghĩ, người ta bán phân hóa học thì mình bán phân hôi. Con người càng văn minh càng sợ chất hóa học ô nhiễm môi trường sẽ quay về với phân tự nhiên. Lão sẽ là người mở đầu kinh doanh mặt hàng này. Bán hết của nhà, lão sẽ mua của người về bán. Gọi là bà già, trẻ con cả làng cả phố sẽ đi gắp phân về bán cho lão. Chưa chừng phố làng buôn bán khá nhất hàng phân hôi của mình. Đàn bò vào chân núi tản ra như những đốm lửa cháy lan trên vạt sim mua, cỏ tranh. Đến chỗ cây nụ, nơi tụ tập lũ mục đồng, lão rút từ túi quần âu cái máy trò chơi điện tử to bằng cái máy điện thoại cầm tay. Lũ trẻ nhao đến xúm quanh lão. Đưa cái máy cho thằng bé trọc đầu, lão nói: – Giao mày toàn quyền kinh doanh. Nhưng tối phải hối bò về cho tao. Lạc mất con nào, tao thu bò nhà mày. Những đứa khác cũng chìa tay ra: – Đưa cháu mọ ơi. – Cho cháu! – Cháu! – Mỗi hôm sẽ đến lượt một đứa. – Lão nói và xoa đầu chúng. Thế là thỉnh thoảng lão chỉ mất nghìn bạc mua pin lắp vào máy giao cho trẻ chơi, coi là tiền công thuê trả bò rẻ rúng nhất. Nếu thuê người thả bò sẽ tốn gấp vạn. Cái máy chơi điện tử này ở phố họ cho trẻ thuê mỗi giờ tám trăm đồng. Vì thế đứa nào nhận trông bò có máy được chơi thả sức lại có quyền cho đứa khác thuê mà lấy tiền chơi bi a, hát ôkê. Lão lại được tiếng là người xởi lởi với trẻ con. Trên đường quay về phố làng lão đắc chí cười thầm chốc chốc lại nhìn lên khoảng trời mùa đông đục như nước vo gạo có những cánh chim bồ câu hối hả dọc ngang trên đầu phố núi. * Lão Tất cởi giày buông cái mành cọ cho kín đáo rồi yên trí mở khóa cửa. Lấy khóa ra xong, đáng lẽ rút then ngang khỏi khuy thì đằng này lão lại ấn sâu vào để làm tụt cái lẫy lắp bên trong. Nếu người không biết, lấy khóa xong, càng rút then ra, cái lẫy càng ấn sâu vào chốt gọi là tài thánh cũng không mở nổi cái cửa đi này, kéo mành cọ lên, thấy ông Tư Chất đang xếp dọn bán hàng khô lão gọi: – Mọ Chất ơi, sang cháu uống nước tham quan công trình ta lét nhà cháu cái. – Hoàn thành toa lét rồi hả mọ? – Phải, trưa nay thợ mới bàn giao công trình. Hai người đưa nhau đi sâu vào ngôi nhà hình ống hun hút như chui vào một cái mà. Ngăn trong cùng là nhà bếp, phòng ăn xây đối diện với bể nước và công trình vệ sinh liền với nhà tắm có lắp bình nóng lạnh. Căn phòng rộng ốp gạch men sứ sáng loáng, trên tường gắn những cái mắc áo nhựa xanh. Có xích đông bằng gương để cái lược nhựa, bánh xà phòng thơm và một tấm gương gắn vào tường vuông góc với giá gương. Dưới thấp một chút là cái chậu sứ có lắp hai vòi bằng kim loại mạ kền. Góc phòng đặt chậu sứ đứng có nắp đậy. Ông Tư Chất sờ sệt vào từng thứ, hỏi: – Không biết các thứ này sử dụng thế nào mọ? – Cháu ngỡ đi cán bộ, mọ phải sành hơn cháu chứ. – Khốn nỗi, thời cán bộ của cháu ngồi hố xí công cộng hơn ngồi tù, sánh sao được. Chỉ vào cái chậu sứ, lão Tất nói: – Người ta ngồi quen thế nào chứ riêng khoản này cháu thì cháu chịu, cứ cái chuồng hôi ở sau nhà cháu dùng thôi, lại giữ được phân gio mọ ạ. – Thế mới biết bây giờ văn minh quá mọ ơi. – Phải, văn minh đến mức ăn đâu ỉa đấy mọ nhỉ. – Có thứ này mọ mới đón được cô Lài ở dưới thị xã lên chơi đấy, mọ Tất ạ. – Đâu phải vậy. Cháu nó ở bên Đức hai ba lần phôn về giục cháu xây ta lét để nó còn đưa bạn trai về chơi. Chứ như cháu có phải tội, ngang xây cái nhà ngói năm gian đấy. – Làng ta bây giờ văn minh nhất nhà mọ. – Cả huyện chưa chắc nhà nào có nổi cái ta lét vĩ đại như nhà cháu đây, mọ đừng tưởng. – Mời mọ ra ngoài này, cháu lấy chai bia Tàu về uống. – Đừng vẽ, tốn mọ ơi. Tuy mồm chối gọi là nhưng trong bụng ông Tư Chất lại khấp khởi mừng thầm, vì thế ông mới nheo mắt gật gật khi lão Tất đi ra cửa. Ông là bạn nối khố với lão Tất từ thời để chỏm. Lớn lên ông đi bộ đội rồi chuyển ngành sang làm Trưởng phòng tổ chức Sở Thể dục thể thao, một cái sở nổi tiếng lục đục đấu đá nhau. Vì thế ông là người dạn dày, đầy mánh lới. Thấy lão Tất giàu có, phất nhanh, trong lòng ông không khỏi lấn cấn ghen tức. Ở nhà quê, vì làm ăn khó khăn nên lắm người chẳng dễ gì đã vui mừng thật bụng trước sự may mắn ăn nên làm ra của người khác. Chỉ vì mong mình hơn người nên họ thường lấy sự kém cỏi rủi ro thua thiệt của người khác làm niềm vui an ủi cho mình. Đối với những người nông nổi thường chỉ có thể xoa dịu tính ghen ghét của mình bằng những lời cạnh khóe và vẻ mặt khó đăm đăm trước những ai hơn mình. Còn những kẻ mánh lới, thâm hiểm thì sự ghen tức đố kỵ được hun đúc thành những mưu mô hại người một cách độc ác. Ông Tư Chất lúc nào cũng ngọt ngào nịnh hót nên mới đưa được lão Tất xuống thị xã, manh mối cho lão làm quen với mụ Lài, một con người có tiếng lẳng lơ quay quắt, để lão giao cho mụ năm chục triệu đồng… cùng “kinh doanh xuyên quốc gia” mặt hàng trang trí nội thất. Ông rỉ tai cho mụ trước để đào cái “mỏ tiền” ở lão Tất. Hai người vừa uống bia vừa nhâm nhi đĩa hạt gắm rang nghe nịnh nọt tâng bốc nhau lên tận mây xanh. Phố làng đang râm ran cả tiếng ngựa hí, tiếng lợn kêu và bò rống. Cái máy điện thoại đặt nằm trên đầu bàn kêu: “tu… tu…”. Lão Tất nhấc máy lên, áp vào má. Tiếng mụ Lài vang như nói ở trong chum vang ra: – A lô, bác Tất hả? Hôm nay em lên nhà bác đấy! – Có việc gì vậy cô? – Em lên trả lãi tháng này cho bác. Sẽ chậm mất vài ba giờ đồng hồ đấy, bác thông cảm. – Gớm, cô kỹ thế, tin nhau rồi, cô trả lúc nào chả được, chớ vì thế mà phải lặn lội cả trăm cây số đấy. – Tính em chiên môn sòng phẳng mà bác. Hay bác không muốn em lên chơi. – Ấy, đâu có thế. Cô lên thì vinh dự cho tôi quá đấy. Với lại… hớ hớ, thôi nhé, chờ cô đấy. Bỏ máy xuống bàn, lão nói với ông Tư Chất: – Thì ra dân thị xã họ sòng phẳng quá, tính lãi từng giờ cho cháu mọ ơi. – “Kinh doanh xuyên quốc gia” sòng phẳng là đúng rồi. Có tiếng còi ô tô “pin pin” ở ngoài cửa. Mụ Lài dừng xe con ở sát thềm, xuống xe đi vào nhà bỏ lại ngoài đường đám người nhà quê ùa theo xem mụ khách lạ như xem người từ hành tinh khác đến. Mụ đi giày xanh, đeo tất đỏ, mặc váy vàng, áo len tím, áo vét hồng, khăn len, mũ lông sặc sỡ đến mức từ lão Tất đến ông Tư Chất đều trố mắt nhìn, quên cả chào hỏi nhau. Định thần lại, lão Tất liền ra thềm nói khẽ: – Mọi người đừng có nhòm ngó thế, mà mang tiếng. Chả gì, chúng ta bây giờ cũng là người phố xá rồi! Người ở phố không có thói tò mò đâu nhá. Cô ấy là người giàu có sang trọng bậc nhất dưới thị xã, cùng “kinh doanh xuyên quốc gia” với tớ chứ có gì phải xem, đi đi! Ngay lúc lão Tất vừa ra cửa, ông Tư Chất đã lôi mụ Lài vào tham quan nhà cửa của lão Tất để có cớ nói: – Lão này còn khối tiền đấy cô ạ. Mà này, tôi phải được công “chi cho mếch” đấy chứ? Mụ Lài gí vào tay ông Tư Chất một triệu đồng. Giắt vội cục tiền vào cạp quần, ông vuốt lại vạt áo ngoài cho hết phồng, quay ra nói to: – Mọ Tất ơi! Giới thiệu cho cô Lài tham quan công trình toa lét của mọ đấy. Quay vào, lão Tất nói: – So với cái ta lét của cô thì thấm gì? A này, cô bay hay sao mà vừa phôn xong đã đến rồi? – Đứng mua xăng ở đầu phố, em tranh thủ phôn cho bác đấy. – Lên đây mới phôn nhỡ tôi đi vắng làm sao? – Em biết bác chiên môn ở nhà. Quả là từ khi giàu có lão Tất không khi nào dám vắng nhà qua đêm. Anh em cháu chắt đông đàn dài lũ nhưng lão không tin ai để có thể gửi chìa khóa nhà. Cả làng, cả phố này lão tin có mỗi mình ông Tư Chất nhưng cũng chỉ dám nhờ để ý trông coi ngăn ngừa, thét mắng không cho ai đến gần để quan sát, thám thính nhà mình. Nháy mắt với mụ Lài xong, ông Tư Chất nói: – Cô có thừa nhận cái công trình vệ sinh này hiện đại không? – Hiện đại nhất nước ấy chứ. Thật, em chiên môn đến các khách sạn ở trong Nam ngoài Bắc nên em biết. Ông Tư Chất tán thêm: – Nhưng mọ còn thiếu thứ quan trọng nhất đấy. Bà mọ mất từ lâu rồi, các con đều ở xa mà không chịu tìm người nâng khăn sửa túi cho. Khéo phải trông vào cô Lài đây cô Lài nhé. – Xong thôi, hay bác chê em, hí hí… Mụ đến bếp mở vung những xoong nồi, mở cửa chạn bát nhòm ngó, rồi nói: – Cụ này chiên môn ăn hàng hẳn thôi, tất cả bỏ mốc ra. Rồi mụ đến kéo then, mở cửa ngách. Bên kia là bãi đất rộng tường bao bốn phía. Trên đầu các bức tường treo san sát những chuồng chim bồ câu bổ cửa tròn bồi những vòng trắng vòng đen lố nhố như những cặp mắt ma. Trong cùng là dãy chuồng bò. Phân bò đắp đống như cây rơm ở một góc. Phân khô đã đóng tải chất đống ở cạnh cửa đi ra phố. Ở đấy lão sẽ treo biển quảng cáo “Ở đây bán phân súc vật” và cũng sẽ treo cái cân tạ để bán hàng. Mụ Lài lắc đầu lia lịa kéo lão Tất vào trong nhà, chìa ra cục tiền nói: – Mỗi tháng bác ngồi không ăn lãi hai triệu đồng, chưa kể bán hàng xong thanh toán chia nhau lãi lại được khoản tiền ngang tiền gốc bỏ ra. Bác nuôi bò nuôi chim làm gì cho mệt. – Mụ đưa cho lão quyển sổ thanh toán có đóng dấu đỏ giáp lai bảo lão Tất ký nhận tiền. Lão chần chừ, mụ lại bảo: “Buôn bán tầm cỡ quốc tế cứ phải giữ nguyên tắc, tin nhau vẫn phải ký. Bác giao tiền cho em, em phải ký và có xác nhận dấu đỏ của Công ty trách nhiệm hữu hạn. Công ty trách nhiệm hữu hạn của em được các cấp cơ quan nhà nước đóng dấu công nhận, bác đã thấy tận mắt, hay nghĩ là em lừa”. “Cô đừng nghĩ thế phải tội lòi con mắt, chả tin cô, tôi tin ai”. Bây giờ mụ Lài mới giở ra tập phiếu có chữ Tây chữ ta, chữ Tàu bảo là phiếu nhận hàng được chụp lại gửi từ nước ngoài về. Ba tháng nữa số hàng hai tỷ đồng ấy sẽ được nhập cảng. Kinh doanh số hàng này sẽ thu lãi hai tỷ, nếu ai góp vốn nhiều được ăn lãi nhiều. Thấy món bở, lão Tất vồ ngay lấy: “Cô ưu tiên cho tôi góp vốn, nghe chửa”. Mụ bảo, ai có lực tham gia kinh doanh vụ này phải góp từ hai trăm triệu trở lên. Nhưng lại nêu khó khăn là các bạn hàng trong công ty trách nhiệm hữu hạn chưa chắc đã đồng ý cho lão góp vốn. Hai trăm triệu là khoản tiền lớn nhưng nếu rút tiền gửi kỳ phiếu lão cũng đủ sức tham gia. Tuy thế lão còn tỏ ra khôn ngoan nói: – Nếu hai trăm triệu tôi phải bán tất tật mới đủ. Nhưng tôi sẽ cố. – Em cũng sẽ cố thuyết phục cho bác tham gia, nhưng chưa dám hứa. Thôi, không bàn chuyện này nữa. Vẻ không quan tâm đến chuyện làm ăn ấy của mụ Lài càng làm lão hăm hở muốn được lao vào ngay để sau vụ này kiếm lãi hai trăm triệu đồng, một số tiền mà dân cả phố cả làng này đều không dám mơ đến. Buổi tối, lão Tất lúng túng khi mắc màn trải đệm và chăngối cho mụ Lài. Mặc dù đã năn nỉ níu kéo nhưng ông Tư Chấtnhất định chối từ không chịu ở ngủ cùng lão. Lão vừa ngượngvừa mừng vì trong nhà chỉ có hai người qua đêm. Buộc dây màn thấy mụ Lài mặc áo lót rộng có hở rãnh cái ngực ngồn ngộn và không biết vô tình hay cố ý, mụ lên giường kéo váy hở cao hai cái đùi trắng làm khắp người lão nổi gai gà. “Hay nó định giăng bẫy để moi tiền mình”, ý nghĩ chợt đến làm buốt dọc theo sống lưng lão. “Nhưng người tỉnh thành giàu có sang trọng như thế đời nào lại thèm hại mình”. Ý nghĩ này lấy lại vững tâm để lão nghe rõ trong người mình máu chảy rần rật. Cử chỉ nhõng nhẽo liếc mắt đưa tình của mụ Lài đã bắt hết hồn của lão nhà quê đang nổi máu “chơi trống bỏi”. Khi mụ Lài buông ra câu “Em là chiên môn không có ngủ một mình bao giờ” làm cho lão thấy gió phào qua mặt mình, mắt tối sầm lại, ngã vật xuống giường, cắn chặt hai hàm răng… Cả một tuần sau đó lão phờ phạc như bị ốm. Sau cú phôn của mụ Lài báo tin người ta chưa đồng ý cho lão góp hai trăm triệulàm ăn vụ tới, lão tiếc ngẩn tiếc ngơ. Lão mò ngay sang nhờ ông Tư Chất biên thư cố nói khó với mụ Lài thuyết phục cho lão được tham gia làm ăn. Ông Tư Chất đủ mánh lới để làm khó mãi lên. Lão Tất cố nài: – Hay là mọ đáp ô tô xuống gặp cô ấy hộ. Thấy mình nhiệt tình, họa may người ta nể mà nhận cho. Ông Tư Chất lắc đầu nhăn mặt. Lão Tất nói: – Mọ giúp cháu không thiệt đâu? Thành công cháu khắc có quà cho mọ. Ông Tư Chất vẫn im lặng. – Hay là cháu đưa trước cho mọ ít tiền, mọ đi hộ. – Mọ đưa cháu ngần nào? – Năm sáu chục là thừa tiền tàu xe ăn đường rồi. Hay một trăm?… Hay hai trăm?… Hay năm trăm? – Mọ tính thử xem, mới hai tháng vừa đoạn, riêng tiền lãi mọ đã được lĩnh của cô Lài bốn triệu đồng, còn cháu được gì? Nếu cháu không giới thiệu, mọ có làm ăn được không? Dăm ba trăm mọ tưởng là to à? Lần đầu tiên lão Tất ngớ người ra trước ông bạn già tin cậy nhất của mình. Ngỡ là ông ta giúp đỡ vô tư, hóa cũng tính đếm ra tuồng. Nhưng cơ chế thị trường mình đành chấp nhận. Mình ăn mười không cho người ta một không được, có lẽ do mình chưa nghĩ đến chứ không phải người ta quá đáng. Lão trở lại biết điều hơn nói: – Thôi thì cháu gửi trước mọ một triệu. Sau này kết quả cháu lại chi mầu thêm cho mọ. * Chuyện lão Tất có quan hệ với mụ Lài chẳng mấy chốc lan truyền khắp phố khắp làng. Người thì chê lão già còn thích chơi trống bỏi. Người lại khen lão có tài mới quan hệ mọi mặt được với mụ ta. Tóm lại ai cũng bảo lão dại đang dính lừa. Phó tiến sĩ xã hội học Lê Ngân, bề vai là cháu lão Tất, về làng nghe người ta nói xấu chú mình cảm thấy bị xúc phạm định lên tiếng để bảo vệ danh dự cho chú ruột. Đã hàng chục lần anh phải cắn răng giả bộ câm điếc trước cái dư luận đang trở thành trò vui giải trí của cả phố cả làng. Trước tình cảnh này anh phải điện về Hà Nội xin kéo dài thời gian đi điền dã ở địa phương để có cớ ở lại làng Mon giải quyết câu chuyện bê bối trên. Anh mất mấy ngày về thị xã để tìm hiểu tư cách của mụ Lài, người đang hút hồn và bòn vét tài sản của chú anh theo làng đồn. Mọi chuyến về quê Lê Ngân thường ăn nghỉ ở nhà các em trai nhưng lần này ở thị xã lên, anh đến thẳng nhà lão Tất. Anh nói: – Cháu mới ở Hà Nội trở lại quê. Cơ quan yêu cầu cháu phải tiếp tục công tác ở quê mình một thời gian nữa. Lần này cháu nghỉ nhờ đây, xin ông trẻ mấy bữa cơm. Lão Tất cười gượng. Quay vào trong nhà lấy bọc chè, lão thầm nghĩ: “Mặc thây tác với tộ của mày, ông đang trăm công ngàn việc đây”. Quay ra đưa bọc chè cho Ngân, lão nói: – Anh pha nước uống nhé. Chú đang rất bận. Lê Ngân nói ngay không để chú kịp bỏ đi: – Cháu mới kiếm được củ nhân sâm Cao Ly chính hạng đem về biếu ông trẻ tẩm bổ. Cặp mắt bừng sáng lên, lão Tất hỏi: – Có phải loại sâm cho người sắp chết ngậm vào vẫn sống dai hả cháu? – Vâng, ông trẻ đi xa, làm mệt, ngậm một lát khỏe người lắm. – Thế thì chú rất cần. Nhưng anh bày vẽ tốn kém quá. Thôi chú xin. Lão kiếm cớ cất củ sâm vào buồng để đi luôn ra chuồng bò tránh ngồi lâu khỏi chuyện nọ xọ chuyện kia. Xưa nay lão vẫn quý trọng Lê Ngân. Lão thường khoe: “Nó là đứa học tài, hiếu thảo, tốt bụng nhất nhà tôi”. Mỗi lần Ngân về, đến chơi ăn với lão bữa cơm, lão sướng lắm, đi khoe khắp cả làng ngay. Lão tự hào vì cháu lão học cao nhất cả huyện, nhiều lần còn được lên báo, lên ti vi cả nước. Vậy mà bây giờ đối với Ngân lão không raghét không ra yêu. Cử chỉ tránh mặt của lão không lọt khỏi mắt Ngân. Anh cười tủm, nói khi chú anh vừa bước chân vào nhà: – Cháu muốn thưa chuyện với ông trẻ đây. – Chuyện gì, hay anh lại nghe chúng nó xiên tạc tôi. – Không, chuyện riêng nhà mình ông trẻ ạ. Lúc ấy trống ngực lão Tất mới bớt gõ mạnh. Lão ngồi xuống ghế, hàm hất lên hỏi: – Gì? – Mấy lần ông trẻ giục chúng cháu sửa lại nhà từ đường và bốc mồ tổ tiên về khu Giếng Vàng. Nay cháu mới có điều kiện thực hiện. Cháu thưa lại, mong ông trẻ cho ý kiến. Lão Tất thở phào ngồi dịch vào trong, dựa lưng vào tay ghế. Lão nghĩ: “Chúng mày định moi tiền tao làm việc hiếu nghĩa lấy tiếng chứ gì…”. Lão nói nhưng nhìn ra ngoài. – Thì anh nói phương án của anh tôi xem đã. Xưa nay chưa bao giờ thấy người chú ruột tỏ thái độ vừa lạnh lùng vừa ngờ vực với mình như lúc này, Lê Ngân đoán biết ngay ra ý nghĩ của lão Tất, anh nói: – Về kinh phí, cháu lo chu đáo rồi, ông trẻ yên tâm. Lão Tất ngớ ra, nét mặt chùng xuống. Lão tự trách mình thiển cận nghĩ oan cho Lê Ngân. Vì linh cảm thấy nếu ngồi lâu sẽ có chuyện không hay được lôi ra nên lão đứng dậy nói: – Trẻ quyền cha già quyền con, công việc anh lo thế nào chú cũng ừ. Chú xin đóng góp như mọi người. Định hôm nào mát nhà, xây mộ cho các cụ chú sẽ có mặt còn bây giờ chú bận lắm. Ngân dấp dứ mấy bận định kiếm cớ này nói toạc ra tư cách mụ Lài cho lão tỉnh ngộ, nhưng anh biết có nói ra bây giờ cũng như nước đổ lá khoai nên đành gác lại. Mấy ngày sau, theo đề nghị kín của anh, mấy ông lãnh đạo Hội bảo thọ, Ban khánh tiết cùng đến nhà lão Tất yêu cầu lão tham gia các ban lãnh đạo trên. Vừa rót nước mời khách, lão vừa thầm nghĩ: “Mình nghèo họ thèm mời mình không? Hay họ chỉ nhằm vào cái túi tiền của mình”. Nghĩ thêm lão thấy nếu được làm lãnh đạo cũng oách hơn, không thằng nào dám bắt nạt mình… Lại một người khác nói: – Tháng ba tới hết nhiệm kỳ chủ tế, chúng tôi có ý bầu cụ vào làm đấy. Lão Tất ngớ ra, tay cầm cái ấm không vững, rót nước ra ngoài chén. Xưa nay lão chưa hề dám mơ đến chức chủ tế đền Thánh Mẫu. Vì chức chủ tế phải là người uy tín, mẫu mực gia đình yên ấm, đề huề, sạch sẽ không có tang. Vậy thì nhà mình đã có điều tiếng gì. Mình thừa tiêu chuẩn chứ. Có điều bà vợ mình mất rồi, vợ chồng không còn song toàn chưa chắc được làng chấp nhận. Hay vào thời đại mới hiện đại hóa rồi, tiêu chuẩn chủ tế được làng thay đổi, hoạ may mình được làm cũng nên. Làm chủ tế được mũ cao áo dài, làng rước kiệu từ nhà mình rước ra đền, tên mình lại được làng đục vào bia đá lưu danh muôn thuở… Muốn thì lão muốn rồi nhưng nói thật bụng mình ra sợ mọi người chê háo danh. Lão trở nên hoạt bát xởi lởi nói: – Xin các mọ ngồi chờ, cháu sẽ đãi các mọ chầu bia Tàu với bánh bích quy. Nhân một lúc vắng, chỉ còn hai chú cháu đứng với nhau xem xét chỗ dột nhất ở nhà từ đường, Lê Ngân cười tủm, nói với lão Tất: – Hình như ông trẻ vẫn có ý định hùn vốn tiếp cho mụ Lài? Lão Tất quắc mắt lên, ngỡ bật ra đôi con ngươi. – Cớ làm sao mà anh gọi người ta là “mụ”? Ngân vẫn cười: – Xin lỗi ông trẻ cháu cứ nhỡ mồm, vì thấy cả thị xã họ gọi bà ta như vậy. Họ bảo mụ ta lừa lọc ghê lắm đấy ông trẻ ạ. – Ai bảo anh thế, toàn trâu buộc ghét trâu ăn, thấy người ta giàu có tức tối nói bậy. Nói có anh… – Lão ra sức bảo vệ và đề cao mụ Lài. Lão còn dẫn chứng mọi giấy tờ con dấu của các cấp lãnh đạo chứng nhận mụ là giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn hẳn hoi… Lão nói một thôi một hồi cốt làm cho Ngân yên tâm, tin rằng lão là người tinh đời, cẩn thận không thể mèo mù trong công chuyện làm ăn. Mặc dù lão cố to mồm nói át đi nhưng kỳ tình lão đã hoang mang, chột dạ về số tiền năm mươi triệu kia. Lê Ngân nói: – Ông trẻ đã đưa cho mụ ta nhiều ít? – À, tý ty không đáng gì cháu ạ. Chú tin tưởng lắm. Tuy mồm nói cứng, nhưng hút xong điếu thuốc lào mặt lão lại thần ra, lẩm bẩm buột ra thành tiếng: – Không có nhẽ lại dính lừa… Lê Ngân cười quay mặt đi, vờ không nghe thấy. Dù vậy, lời báo động của Ngân về tư cách mụ Lài đã làm lão thắc thỏm bán tín bán nghi. Vốn bản tính đa nghi lão tính mình phải chơi khôn để thăm dò thái độ mụ Lài. Vừa rồi thấy mình hám làm ăn nên mụ tỏ ra dửng dưng chăng. Nếu đúng vậy thì đừng hòng, lão sẽ không dính lừa đâu. Nghĩ thế, lão liền nhấc điện thoại bấm số máy của mụ Lài. Tức thì lão nghe trong máy có tiếng “tu” đều và chậm, để rồi có tiếng hỏi của mụ Lài: – Ai mà cứ chiên môn gọi vào lúc ngủ nhỉ… À, bác Tất ư?… Sao? Các cháu đòi tiền làm gì? Không được bỏ cuộc đâu, em cũng đang định ngủ dậy sẽ gọi điện lên bảo bác đem hai trăm triệu xuống như bác đã yêu cầu. – Thì mấy bận hỏi, cô đều bảo mọi người không cho tôi hợp tác là gì. – Nhưng bác vẫn có yêu cầu nên em mới nói khó cho bác. Nếu bác tự ý bỏ nhỡ việc bác phải chịu phạt đấy. Lão Tất ấn nút tắt máy, nói một mình: “Phạt ấy tao đây này…”. Tuy nói cứng nhưng trong lòng lão thật sự hoang mang. Như vậy rõ ràng là nó định trở mặt với mình rồi. Vậy mình phải nói thế nào đây để nó tin là mình sắp phải bán xới tất cả để vào Nam ở với con trai. Có thế mới hy vọng đòi được năm mươi triệu kia về. Lão muốn hỏi Lê Ngân cách tháo gỡ nhưng lại xấu hổ, không dám. Lão ngờ vực tránh gặp mặt cả ông bạn già Tư Chất ở đối diện nhà mình… Mấy ngày sau Lê Ngân đến, hỏi lão: – Cháu hỏi thật, ông trẻ đưa nhiều tiền cho mụ Lài chưa? – Thì tôi đã bảo tý ty không đáng gì mà lị. Nhưng cớ sao mà anh cứ hỏi vậy? – Bạn cháu ở dưới tỉnh vừa điện lên báo cho biết mụ Lài bỏ trốn rồi. Nhà cửa của mụ ta bị niêm phong. Lão Tất há hốc mồm, hai mắt mở to, mặt bệch ra như hết máu. – Ông trẻ! Ông trẻ có sao không? – À không không, đừng hòng nó lừa được tôi. Anh ngỡ tôi dại à. Làm chuyện tiền nong tôi đều có giấy tờ cẩn thận. – Ông trẻ có thể đưa cháu xem giấy tờ mụ Lài viết biên nhận cho ông trẻ. – À đấy là tôi thí dụ thôi… đã bị lừa đâu mà. Ông Tư Chất bước vào. Vì không có máy điện thoại riêng, thiếu thông tin, ông vẫn hy vọng sẽ được mụ Lài “chi mầu” năm triệu đồng sau khi đã lấy được hai trăm triệu ở nhà này. Với vẻ hăm hở ông nói: – Mai cháu với mọ về nộp tiền cho cô Lài thôi nhỉ. Sợ lộ hết chuyện với Lê Ngân, sẽ xấu hổ, lão Tất nhăn mặt, nói: – Thôi, thôi đi. Ông Tư Chất há hốc mồm, Lê Ngân nhìn ông ta nói: – Giải tán chuyện làm ăn này đi, mọ nhé. Mọ không biết tin mụ Lài đã bỏ trốn sao? – Nói lạ, không thể có, không thể có. – Thôi! Thôi! Vì lão Tất quát to nên ông Tư Chất vừa đi vừa giật lùi ra cửa vừa “ơ… ơ” như người câm rồi lủi luôn về nhà. Ất phẩy mạnh tay, nói: – Đi, hôm nay chú cháu ta ra ăn hàng đặc sản thịt thú sơn lâm. Lê Ngân nhận ngay ra cử chỉ hào phóng bất thường của chú mình. Anh đứng dậy. Lão Tất vừa dọn dẹp nhà cửa, khóa buồng chắc chắn trước khi đi ăn hàng vừa nói luôn mồm. Bỗng nhiên lão hết lo lắng tiếc năm chục triệu đồng bị mụ Lài lừa. Nếu hết phúc lão còn mất hai trăm triệu nữa. Nhờ nhà có công có việc và nhờ Lê Ngân đánh động nên mình mới kịp ngừng lại – Lão nghĩ: Do thay mả cho ông bà ông vải nên được phù hộ chăng? Đã bị lừa nhưng lão lại có cảm tưởng như bắt được của. Và để tránh mang tiếng dại dột mắc lừa lão càng tỏ ra vui vẻ, hào phóng, cười nói luôn mồm. Tuy thế vẫn có lắm lúc quên lão vẫn lẩm bẩm nói một mình trước mặt người khác: – Nhẽ chết! Nhẽ chết! MỪNG THỌ Tết này bủ ông Hà Văn Thố lên tuổi 85.Vì bủ có anh con thứ làm Thứ trưởng nên đám khao thọ được mở lớn linh đình tại xóm Mu quê nhà. Từ mấy ngày nay ô tô lớn, ô tô bé của Bộ và của công ty Dịch vụ qua lại xóm Mu như mắc cửi. Người già trẻ con cả mường, nhất là dân xóm Chiềng, xóm Mu cứ lốc thốc ra đường để xem ô tô đổ về đám khao thọ bố ông Thứ trưởng. Từ sáng bảnh mắt bủ Thố đã được con cháu đánh thức, rửa ráy mặt mũi chân tay. Họ còn đánh phấn tô son hồng để nhìn bủ được thêm phần nhuận sắc. Bủ mặc quần lụa trắng, áo gấm dài màu đổ lấp lánh các hình hoa văn chữ chiện. Trên đầu bủ đội khăn đóng. Cô con dâu Nguyễn Thị Ngọc Ánh cô vợ bé của anh Thứ trưởng đưa cho bủ Thố một lát sâm tươi bảo bủ ngậm để lấy sức ngồi nghe người ta chúc tụng. Bủ được bố trí ngồi xếp vàng ở cạnh cột chồ. Trên đầu bủ là cái bàn thờ treo ra ngoài vách. Lần lượt những ông vai trên nội, ngoại, ngang cha chú anh Thứ trưởng đều được mời vào ngồi gian đầu sát gian sthích đầu cầu thang lên. Mỗi dịp tết nhất cỗ bàn, cưới xin gian này đều xếp ba mâm cho người vai trên trong nhà. Đó là ba mâm cỗ gốc. Nếu đám cỗ lớn thì cỗ gốc không thu dọn. Thức ăn hết đĩa nào tiếp thêm cho đầy đĩa ấy. Ăn no uống say các bủ có thể ngả lưng ngủ khì cạnh mâm cỗ, tỉnh dậy ăn uống tiếp hai, ba ngày liền. Gian đầu nhà có bàn thờ này, người Mường gọi là gian gốc. Gian này không cho đàn bà ngồi. Chốc nữa từ Thứ Bộ trưởng đến Bí thư, Chủ tịch các tỉnh đổ xuống đều không được mời ngồi gian gốc. Chỗ của họ ở các gian bên. Người ta đã bê vào đặt trước cột chồ cạnh bủ Thố cái hòm gỗ sơn son to như hòm đựng phiếu có in hàng chữ “Chúc mừng thượng thọ” để khách khứa thả phong bì mừng tuổi. Khách vào nhà được ông Bon, anh trai Thứ trưởng cứ tuỳ tuổi tác, vai vế từng bủ mà lần lượt mời ngồi từ trên xuống. Trên là phía cửa voóng (cửa sổ) phía có bàn thờ. Còn lại khách họ mạc, dân làng hoặc khách Trung ương, địa phương ngồi ở mấy gian bên và các dãy bàn kê dưới thướng (gầm sàn) hoặc trong chớp căng bạt ở trước nhà. Khi gian gốc đã ngồi kín đủ cho ba mâm, mỗi mâm sáu người thì ông Bon liền dẫn cô em dâu vợ Thứ trưởng lên giới thiệu: – Báo cáo các bủ đây là thím Ánh, vợ chú Dong em cháu. Vợ Thứ trưởng cải chính: – Cháu là Nguyễn Thị Ngọc Ánh các bủ nhé. Ông Dong nói: – Thím chưa biết hết vai vế các bủ đâu. Ông ta chỉ vào bủ ông ngồi xây lưng với cửa voóng, nói: Bủ này là anh họ bủ nhà ta. Các bủ đều có chắt (cháu bốn đời) mới được lên bủ. Gọi là bủ ông, hoặc bủ bà. Anh chị em các bủ vì thế chưa có chắt cũng được lên bủ gọi là bủ anh, bủ em. Người có chắt ngoại thì gọi là bủ vãi ông hoặc bủ vãi bà. Anh em các bủ đằng vãi cũng được gọi theo là bủ vãi anh hoặc bủ vãi em. – Vâng, cháu chào các bủ. Mời các bủ uống nước, chờ khách Trung ương lên đủ mới nhấc cỗ cho các bủ uống rượu. Các bủ dán mắt nhìn Ngọc Ánh mắt xanh mỏ đỏ, mặt trát bự phấn. Chị ta mặc cái váy cộc, hở cặp đùi nần nẫn. Bủ nọ ghé vào tai bủ kia bảo: – Bủ tỏng mắt xem đùi nó có đánh phấn không? Mặt trời đã lên quá ngọn núi Lưỡi Hái một tầm sào nứa. Ngày đông nhưng oi bức như hè. Nắng sói qua cửa voóng những vệt vàng vào sàn nhà như quét nước nghệ vàng. Khách gần, khách xa đã lũ lượt kéo đến. Người ta lần lượt lên nhà quỳ xuống sạp nói đôi câu ba điều chúc mừng chiếu lệ, rồi thả phong bì vào hòm. Khách đến mừng đông quá, nhiều khi người ta chúc tụng nhưng bủ Thố không nghe, mắt nhìn đâu đâu thành thử bủ chẳng phải nhọc nhằn cảm tạ và đón nhận phong bì của từng người. Vì người đông lũ lượt nên có anh chỉ đúc xong phong bì vào hòm rồi ra ngay không cần phải có lời chúc mừng. May đã có anh Chánh Văn phòng Bộ đứng chấp tay giới thiệu tên tuổi chức vụ từng vị khách. Thấy bủ Thổ dửng dưng không thèm đáp lời khách, Ngọc Ánh bèn lách vào ngồi cạnh bố chồng để đón phong bì và lời cảm ơn đến từng người. Cô ta ngồi dựa lưng vào cột chồ. Hành động này phạm vào phong tục nghìn đời của người Mường. Các bủ đều chố mắt nhìn nhau. Ông anh chồng Hà Văn Bon cũng chố mắt nhưng cứng hàm không dám thét mắng cô em dâu đang hỗn láo dám ngồi dựa lưng vào cột thờ, cột thiêng của nhà mường. Người mường có muốn bán nhà cũng không dám bán đi cột chồ. Ai đốn gỗ làm nhà phải đốn về trước cây gỗ làm cột chồ. Người ta còn phải cúng nó trước khi cưa đục… Ông Bon hối hận vì đã không nói cho em dâu biết phong tục này của người Mường Mu. Nhưng sợ em dâu phật ý nên ông không dám gọi bảo Ngọc Ánh ra ngoài. Ông đang sống nhờ vào tiền bao cấp của vợ chồng Thứ trưởng, nên không dám làm mất lòng họ. Ông chạy xuống dưới thướng tìm em trai. Thứ trưởng đang đứng đón khách ỏ đầu cổng. Khi anh trai thông báo cô vợ trẻ của mình đang xúc phạm tổ tiên thì anh ta gắt người thư ký tên Hoàn đang đứng cạnh: – Đã bảo cậu phải nhắc nhở kịp thời cô ấy kia mà. Hoàn vốn là cử nhân dân tộc học. Vì không có ô dù nên không xin được công tác ở các cơ quan chuyên môn ngành văn hoá. Cuối cùng mất ngót trăm triệu mới xin được chân cán bộ Văn phòng của Bộ. Anh Thứ trưởng biết Hoàn hiểu phong tục dân tộc mình nên mới rút lên làm thư ký. Anh ta mặt xanh nanh vàng theo ông Bon đi vào nhà. Anh ta vừa thở vừa gọi: Chị Ngọc Ánh! chị Ngọc Ánh! Thưa chị, anh Dong đang đợi chị ngoài cổng có việc cần ạ. Ngọc Ánh đi ra, xách theo túi sách nhỏ và trong tay còn nắm một nắm phong bì. Xuống khỏi cầu thang, thư ký Hoàn dù đã năm mươi tuổi vẫn phải run rẩy lễ phép thưa cô vợ xếp ngót 30 tuổi. -Thưa chị, thưa chị… – Gì thì anh nói đi. – Theo phong tục của người Mường thì phụ nữ không được ngồi gian gốc đấy ạ – Thế à? – Với lại, thưa chị, càng không ai được dựa lưng vào cột chồ đấy ạ – Ngỡ gì, thôi được rồi. Cô ta bèn quay gót trở lại. Thư ký Hoàn hoảng hồn lóc cóc chạy theo sau Ngọc Ánh vốn là thư ký của Thứ trưởng. Từ khi Thứ trưởng li hôn xong với bà vợ Mường, lấy cô ta làm vợ kế xong chuyển cô ta làm phó văn phòng Bộ. Cô phó Văn phòng này còn oai hơn Thứ trưởng nên về đây cô ta đầy tự tin. Các bủ mường khó chịu vì cô ta vai cháu chắt ăn mặc hở hang cứ diễu qua trước mắt mình. Giả sử da dẻ cô ta đen đúa nhìn đỡ chướng, đằng này đùi vế trắng nõn trắng nà cứ như đập vào mắt các bủ vậy. Các bủ không muốn nhìn vẫn phải nhìn, vì cô ta cứ sầm sầm tiến vào phía hòm phong bì ở trước bàn thờ. Cô ta lại láo sược đứng dựa lưng vào cột chồ rồi vạch túi xách cầm ra một nắm phong bao, mỗi phong bao đã đúc sẵn năm mươi nghìn. Các bủ thấy lạ nhìn lên tay cô ta. Ngọc Ánh cười nói: – Thưa các bủ, hôm nay các bủ đến mừng tuổi cho bủ nhà cháu. Vợ chồng cháu xin cảm ơn. Cũng nhân dịp đón xuân năm Sửu, cháu có chút quà nhỏ để mừng tuổi các bủ. Tự nhiên mặt mũi các bủ đều giãn nở ra, hết đi vẻ cau có bực tức. Các bủ vẫn ngồi, còn cô ta lom khom đi trước mặt các bủ, chia phong bì từ bủ già xuống bủ trẻ, từ bủ ngồi trên xuống bủ ngồi dưới. Cặp đùi non trắng nần nẫn của cô ta cứ cố ý ấn tận mắt các bủ. Các bủ rỉ tai nhau: – Da thịt nó đẹp tự nhiên đấy. Không phải trắng vì phấn sáp đâu. Có bủ đã thò tay sắp sờ thử, lại sực nhớ rụt vào. Chia hết đám phong bao trong tay, cô ta lại moi trong túi xách ra để chia cho khắp lượt. Bủ nào cũng chìa tay ra như tay hành khất đợi phong bao rơi vào tay mình. Có bủ nhận được phong bì rồi vẫn không nhớ rụt tay lại để bàn tay va vào đùi Ngọc Ánh. Cái hòm to đã chật cứng phong bì. Ngọc Ánh liền lấy chìa mở khoá rồi bốc từng bốc phong bì sang cái túi vải. Cô ta vừa làm vừa cười nói với bố chồng: – Năm nay bủ thu lắm lộc quá. Các bủ khác đều cười và nhìn trộm cô cháu dâu mặt hoa da phấn. Đem đi cất xong túi tiền ấy vào cốp ô tô con xong cô ta lại chèo lên gian gốc, ngồi cạnh bố chồng. Trước mặt cô ta vẫn là hòm tiền, còn sau lưng là cột chồ. Cô ta xoay nghiêng người đấm lưng cho bủ Thố bố chồng. Cô ta lấy trong túi ra lọ dầu gió, đổ dầu vào lòng bàn tay rồi lùa trong áo xoa dầu vào lưng bủ Thố, vừa đấm vừa bóp. Các bủ khác đều xuýt xoa. – Con dâu thế mới có hiếu chứ. Khách vẫn đều đều tới tấp lên nhét phong bì vào hòm gỗ. Ngọc Ánh như sực nhớ lấy từ trong túi những lọ dầu gió bé bằng hai đốt ngón tay nói: – Chết quên, cháu biếu mỗi bủ một lọ dầu xoa, vợ chồng cháu mới mua từ bên Mỹ về đấy ạ. Mắt các bủ đều sáng lên. Bủ nào cũng chìa tay sẵn như sợ hết phần. Có bủ thỉnh thoảng lại xéo ánh mắt nhìn trộm cô cháu dâu bị bủ khác vỗ vai hỏi khẽ: – Bủ nhìn gì mà kỹ thế? Bủ ấy ấp úng nói chống chế: – Da thịt của nó đẹp thật đấy, cứ ngỡ phải mượn phấn son mới đẹp được như thế. Chia dầu xong cho các bủ, Ngọc Ánh lại ngồi dựa lưng vào cột thờ. Đón nhận quà mừng và có lời tạ ơn thay cho bủ Thố. Vãn khách, cô ta lại chuyện trò cười nói thật rôm rả tự nhiên với các bủ vai cha chú nhà chồng. Từ bé mới thấy xóm Mu có cuộc mừng thọ vui vẻ đến vậy.
    Nhắn tin cho tác giả
    Phạm Thanh Duy @ 14:20 11/12/2010
    Số lượt xem: 516
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến