Thời gian là vàng

Thanh Duy xin chào

0 khách và 0 thành viên

Mời Thầy cô dùng trà

Tâm sự với Thanh Duy

Tìm kiếm

Danh lam thắng cảnh

Lịch âm dương

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Phạm Thanh Duy)

Hỗ trợ trực tuyến


Quản trị: Phạm Thanh Duy
0914.083.183

Liên kết website

Từ điển trực tuyến


Tra theo từ điển:


Nghe nhạc trực tuyến

Tin tức

Truyện cười

Thời tiết - Giá vàng

Lời hay - Ý đẹp

Liên kết ứng dụng

Bách khoa toàn thư

Website liên kết

Nhiệt độ - Thời gian

Hà Nội
’Hà
Tp Hồ Chí Minh
’Tp
Cà Mau
’Cà

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý thầy cô đến với website Giáo dục và Cuộc sống của Phạm Thanh Duy

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Thông tin cần biết về quê tôi >

    LỊCH SỬ, VỊ TRÍ ĐỊA LÍ, KINH TẾ VÀ XÃ HỘI CỦA TỈNH CÀ MAU

    LỊCH SỬ, VỊ TRÍ ĐỊA LÍ, KINH TẾ VÀ XÃ HỘI CỦA TỈNH CÀ MAU

     

    Cà Mau là tỉnh ven biển tận cùng phía Nam của lãnh thổ Việt Nam, thuộc vùng Đồng bằng Sông Cửu Long hay miền Tây Nam Bộ. Tỉnh bao gồm phần đất liền thuộc bán đảo Cà Mau và một phần nhỏ ở hải đảo là các đảo: Hòn Khoai, Hòn Đá Bạc, Hòn Sao, Hòn Đá Lẻ. Cà Mau là vùng đất mới của Đồng bằng Sông Cửu Long, mặc dù người Việt đã có mặt từ thế kỷ XVII, nhưng đến giữa thế kỷ XVIII, Cà Mau vẫn còn là một huyện của trấn Hà Tiên. Thời Việt Nam Cộng Hoà, tỉnh có tên là An Xuyên. Tháng 02-1976, tỉnh An Xuyên và một phần tỉnh Bạc Liêu hợp nhất thành tỉnh Minh Hải. Tháng 11-1996, tách tỉnh Minh Hải thành tỉnh Cà Mau và tỉnh Bạc Liêu.

    Cà Mau được nhiều người biết đến như là một vùng sông nước xa xôi, hẻo lánh, nơi có mũi Cà Mau - điểm mốc quốc gia cuối cùng trên đất liền về phía Nam. Ngày nay, tuy thành phố Cà Mau - tỉnh lỵ của tỉnh - đã có những bước phát triển vượt bậc, trở thành một trong những thành phố lớn của miền Tây, tuy nhiên, nhiều huyện khác của Cà Mau như: U Minh, Ngọc Hiển, Năm Căn, Cái Nước, Đầm Dơi....vẫn còn nghèo nàn, lạc hậu. Người ta có thể hình dung vùng đất này qua tác phẩm Cánh đồng bất tận của nhà văn bản địa Nguyễn Ngọc Tư. Tỉnh có nhiều điểm du lịch sinh thái hấp dẫn như: Vườn quốc gia U Minh Hạ, Vườn quốc gia Mũi Cà Mau, đảo Hòn Khoai, sân chim Đầm Dơi, sân chim Chà Là, sân chim Cà Mau.....

    I. Điều kiện tự nhiên

     

    1. Vị trí

     

    Phần lãnh thổ đất liền của tỉnh Cà Mau nằm trong tọa độ từ 8o30' - 9o10' vĩ Bắc và 104o80' - 105o5' kinh Đông; Bắc giáp tỉnh Kiên Giangtỉnh Bạc Liêu; phía Đông và Nam giáp biển Đông; phía Tây giáp vịnh Thái Lan. Tỉnh có điểm cực Nam tại 8o33’ vĩ Bắc (thuộc xã Viên An, huyện Ngọc Hiển), điểm cực Bắc tại 9o33' vĩ Bắc (thuộc xã Biển Bạch, huyện Thới Bình), điểm cực Đông tại 105o24' kinh Đông (thuộc xã Tân Thuận, huyện Đầm Dơi), điểm cực Tây tại 104o43' kinh Đông (thuộc xã Đất Mũi, huyện Ngọc Hiển).

    Cà Mau có đường bờ biển dài 254 km, chiếm 7,8% chiều dài bờ biển cả nước, trong đó có 107 km bờ biển Đông và 147 km bờ biển Tây. Vùng biển của tỉnh rộng trên 71.000 km2, tiếp giáp với vùng biển các nước: Thái Lan, Malaysia, Indonesia, là trung tâm của vùng biển quốc tế ở Đông Nam Á. Vùng biển Cà Mau có các đảo Hòn Đá Bạc (huyện Trần Văn Thời), Hòn Chuối, Hòn Buông (huyện Cái Nước), thuộc biển Tây; Hòn Khoai (huyện Ngọc Hiển) thuộc biển Đông. Hòn Khoai là một cụm đảo gồm 4 đảo: Đồi Mồi, Hòn Sao, Hòn Gò và lớn nhất là đảo Hòn Khoai. Cụm đảo cách đất liền khoảng 18 km, với diện tích xấp xỉ 5 km2.

    Thành phố Cà Mau - tỉnh lỵ của tỉnh - nằm trên quốc lộ 1A và quốc lộ 63, cách thành phố Hồ Chí Minh 380 km, cách thành phố Cần Thơ 180 km. Từ đây có thể dễ dàng đi đến các tỉnh thành khác trong khu vực và các nước lân cận bằng các phương tiện thủy, bộ. Đường bay thành phố Hồ Chí Minh - Cà Mau cũng đã được mở rộng và đưa vào sử dụng.

    Vị trí địa lý tạo cho Cà Mau có tiềm năng lớn để phát triển đánh bắt thủy sản và khai thác dầu khí; thuận lợi trong giao lưu, hợp tác kinh tế, văn hoá với các nơi khác; dễ dàng thông thương với các nước trong khu vực và quốc tế bằng đường bộ, đường thủy và đường hàng không.

    2. Địa hình

     

    Cà Mau có diện tích tự nhiên là 5.331,7 km2, đứng thứ 2 ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long - sau tỉnh Kiên Giang. Địa hình bằng phẳng thuần nhất là đồng bằng, đất đai phì nhiêu, sông ngòi chằng chịt. Hàng năm ở phía Tây vùng Mũi Cà Mau bồi ra biển trên 50 m. Ngoài biển có đảo Hòn Khoai, Hòn Sao, Hòn Đá Lẻ và Hòn Đá Bạc.

    Địa hình thấp, thường xuyên bị ngập nước, có tới 90% diện tích ngập mặn có chứa phèn tiềm tàng. Năm 1929, một nhà nghiên cứu người Pháp ví đồng bằng Cà Mau là "một trong những bồn trũng có nước đen kịt rỉ ra tứ phía". Các dòng nước đen này cuốn theo những tàn tích thực vật, đem tích tụ tại bờ biển làm cho trầm tích ở đây có màu bột cà phê. Rừng U Minh chiếm phần lớn diện tích bồn trũng này.

    Bờ biển phía Tây của tỉnh thấp, có nhiều sú vẹt, hằng năm tiến ra biển khoảng 60 - 80 m. Mũi Cà Mau ở phía Nam nằm giữa hai luồng hải lưu của biển Đông và của vịnh Rạch Giá, thường xuyên được bồi đắp và tiến dần ra biển, hình thành các làng xóm mới. Trước đây, xóm Rạch Tàu là xóm cuối cùng của đất nước thì nay là xóm Mũi, nằm ngay mũi Cà Mau. Theo số liệu của Sở Tài nguyên - Môi trường tỉnh Cà Mau, từ năm 1930 đến năm 1998, bình quân mỗi năm, diện tích vùng bãi bồi Cà Mau tăng khoảng 136 ha. Ngược lại, bờ biển phía Đông của tỉnh đang bị mài mòn, đặc biệt từ cửa sông Gành Hào xuôi về xóm Rạch Gốc.

    Vùng biển Cà Mau có một số đảo gần bờ như: Hòn Khoai, Hòn Sao, Hòn Đá Lẻ thuộc huyện Ngọc Hiển; Hòn Đá Bạc thuộc huyện Trần Văn Thời. Các đảo này có vị trí chiến lược quan trọng, là cầu nối để khai thác kinh tế biển và là điểm tựa tiền tiêu để bảo vệ Tổ quốc.

    Nhìn chung, địa hình Cà Mau thuộc kiểu đồng bằng ven biển với các đảo gần bờ, có điều kiện thuận lợi để phát triển các lĩnh vực kinh tế khác nhau. Tuy nhiên, vùng có nền đất yếu, khó khăn khi xây dựng các công trình cơ bản. Địa hình bị chia cắt bởi hệ thống sông ngòi, kênh rạch chằng chịt, thuận lợi cho phát triển giao thông thủy, nhưng lại khó khăn cho giao thông đường bộ.

    3. Khí hậu

     

    Khí hậu Cà Mau thuộc kiểu khí hậu nhiệt đới gió mùa cận xích đạo. Một năm có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Nhiệt độ trung bình năm khoảng 26,5oC; nhiệt độ cao nhất vào tháng 4, khoảng 27,6oC; nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1, khoảng 25oC. Biên độ nhiệt trung bình trong năm là 2,7oC. Số giờ nắng trung bình trong năm đạt 2.500 giờ, tổng nhiệt độ hàng năm từ 9.500 đến 10.000oC. Lượng bốc hơi trung bình khoảng 1.022 mm/năm, lớn nhất từ tháng 12 đến tháng 4. Độ ẩm trung bình năm khoảng 85,6%, độ ẩm thấp nhất là vào tháng 3, khoảng 80%.

    Lượng mưa trung bình năm ở Cà Mau cao nhất so với các nơi khác trong khu vực. Trung bình có 165 ngày mưa/năm, lượng mưa đạt khoảng 2.400 mm. Lượng mưa tập trung chủ yếu từ tháng 5 đến tháng 11, chiếm khoảng 90% tổng lượng mưa cả năm. Từ tháng 8 đến tháng 10 là thời gian mưa nhiều nhất ở Cà Mau. Mưa thường diễn ra theo đợt. Trong mùa mưa, thường có 5 đến 7 đợt mưa gắn liền với thời kỳ diện hội tụ nhiệt đới hoạt động trong khu vực hoặc thời kỳ xuất hiện áp thấp trên biển Đông và di chuyển vào đất liền. Mỗi đợt mưa có thể kéo dài từ 10 đến 25 ngày, lượng mưa mỗi đợt thường từ 150 đến 250 mm. Khác với một số tỉnh (Bạc Liêu, Sóc Trăng...) Cà Mau ít xuất hiện “hạn bà chằn”. Lượng mưa phân bố không đều theo không gian, giảm dần từ Tây sang Đông. Khu vực ven biển phía Tây thường có lượng mưa lớn hơn 2.400 mm, vùng trung tâm khoảng từ 2.200 đến 2.400 mm, khu vực phía Đông có lượng mưa nhỏ hơn 2.200 mm. Thời gian mùa mưa, số ngày mưa và số giờ mưa cũng giảm dần từ Tây sang Đông.

    Chế độ gió không bị chi phối bởi địa hình. Hoàn lưu khí quyển tầng thấp đã xác lập chế độ gió của tỉnh. Chế độ hoàn lưu mùa đã quyết định chế độ gió. Mùa khô, hướng gió chủ yếu là hướng Đông và Đông Bắc, vận tốc trung bình là 1,6 - 2,8 m/s. Mùa mưa, hướng gió chủ yếu là hướng Tây hoặc Tây Nam, vận tốc trung bình từ 1,8 - 4,5 m/s. Ngoài chế độ gió do hoàn lưu khí quyển gây ra, ở các vùng cục bộ trong tỉnh còn có chế độ gió địa phương: gió đất, gió biển do sự chênh lệnh về khí áp giữa lục địa và biển trong ngày. Gió địa phương ở ven biển hoạt động khá mạnh giữa thời gian chuyển tiếp ngày và đêm hoặc thời kỳ chuyển tiếp mùa. Ngoài chế độ gió mùa, Cà Mau cũng có khoảng thời gian hay xảy ra dông, bão, gió mạnh cấp 7 - 8, giật trên cấp 10 - 11. Thời gian phổ biến nhất là từ tháng 4 đến tháng 10. Năm 1997, cơn bão số 5 (Linda) đổ bộ vào Bạc Liêu, Cà Mau ngày 02-11 là cơn bão mạnh nhất từ sau năm 1904  đến nay. Tuy sức gió không mạnh (cấp 10 đến 11) nhưng đã gây thiệt hại cực kỳ to lớn về người và của. Số người chết 128, số người mất tích 1.164, số người bị thương 601, số nhà sập 84.059, diện tích lúa bị ảnh hưởng 79.072 ha, diện tích nuôi trồng thủy sản bị ảnh hưởng 94.758 ha. Tổng giá trị thiệt hại 2.712 tỷ đồng. Nhiều cơn bão tuy không đổ bộ trực tiếp vào địa phương, nhưng mỗi khi xuất hiện trên biển Đông hoặc đổ bộ và các vùng khác của nước ta thì Cà Mau thường có mưa. Vùng biển Cà Mau còn xuất hiện vòi rồng với gió xoáy cực mạnh có thể tới 100 m/giây, gây thiệt hại lớn cho những vùng nó đi qua. Vòi rồng thường xuất hiện vào đầu mùa mưa và mỗi năm khoảng 3 đến 5 lần.

    Nhìn chung, khí hậu Cà Mau ổn định quanh năm, không bị ảnh hưởng của lũ và ít có bão. Đây chính là điều kiện thuận lợi để phát triển nền nông nghiệp toàn diện, đặc biệt là trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản. Chế độ gió mùa kết hợp với chế độ thủy triều ven biển tạo ra hệ sinh thái thuận lợi cho nuôi trồng thủy sản kết hợp với trồng lúa, mang lại hiệu quả cao.

    4. Thủy văn

     

    Cà Mau là tỉnh có nhiều sông rạch, bắt nguồn từ nội địa chảy ra biển. Tổng chiều dài hệ thống sông, rạch của tỉnh khoảng 7.000 km, mật độ trung bình 1,34 km/km2 với tổng diện tích 15.756 ha, chiếm 3,02% diện tích đất tự nhiên toàn tỉnh.

    - Các con sông đổ ra biển Tây: sông Bảy Háp dài hơn 50 km, ra biển ở cửa Bảy Háp; sông Cửa Lớn nối hai cửa Bồ Đề và Ông Trang dài 58 km, rộng trung bình 200 m; sông Ông Đốc từ ngã ba Tắc Thủ cửa Ông Đốc dài hơn 60 km, lòng rộng hơn 100 m, sâu 3 đến 4 m; sông Cái Tàu dài 43 km, rộng 50 m, từ ngã ba Tắc Thủ đổ ra cửa Tiểu Dừa; sông Trẹm từ ngã ba Cái Tàu chạy theo hướng Bắc qua huyện Thới Bình đổ về tỉnh Kiên Giang, phần thuộc Cà Mau dài 36 km, rộng khoảng 50 m; sông Đồng Cùng dài khoảng 36 km đổ ra cửa Mỹ Bình; sông Bạch Ngưu từ ngã ba Tắc Thủ tới ngã ba Đình - tỉnh Kiên Giang với chiều dài 72 km, phần trên đất Cà Mau khoảng 30 km, rộng từ 30 đến 40 m, sâu từ 2,5 đến 3 m.

    - Các con sông đổ ra biển Đông: sông Mương Điều từ Gành Hào qua Đầm Dơi gặp sông Đầm Dơi đổ vào sông Cửa Lớn với chiều dài 45 km, sâu từ 5 đến 6 m, rộng 80 m; sông Gành Hào từ ngã ba Tắc Thủ đổ ra cửa Gành Hào dài 56 km, rộng từ 60 đến 100 m, sâu từ 4 đến 5 m, cửa Gành Hào rộng 300 m, sâu 19 m.

    Các con sông này, ngoài việc cung cấp nước ngọt cho sinh hoạt và sản xuất, còn là đường giao thông đi lại khắp vùng Đồng bằng Sông Cửu Longthành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, còn có các con rạch lớn như: Cái Tàu, Cây Dừa, Cái Đôi, Bà Tranh, Ông Rinh, Biên Nhan....Hệ thống sông rạch chằng chịt thông ra biển, tạo nên hệ sinh thái ven biển đa dạng và phong phú. Đồng thời, các sông rạch này còn mang phù sa bồi đắp hằng năm mở rộng thêm phần đất liền phía Tây từ 80 - 100 m. Ngoài hệ thống sông rạch, Cà Mau còn có nhiều hồ, đầm. Các đầm nhân tạo nằm ven sông, biển là nơi nuôi trồng thủy sản. Đầm tự nhiên rộng lớn nhất là đầm Bà Tường (huyện Cái Nước), ngoài việc cung cấp nguồn thủy sản, còn có tiềm năng du lịch.

    Do ba mặt giáp biển nên chế độ thủy văn của hệ thống sông rạch ở Cà Mau chịu ảnh hưởng trực tiếp của biển. Khu vực gần cửa sông, ảnh hưởng của triều mạnh; càng vào sâu bên trọng, biên độ triều càng giảm; vận tốc lan triều trên sông rạch tương đối nhỏ. Điều này gây khó khăn trong việc tiêu úng vào mùa mưa và cấp thoát nước cho các vùng nằm sâu trong nội địa. Thành phố Cà Mau thường xuyên bị ngập quanh năm do ảnh hưởng của triều cường.

    Đầu tháng 07-2009,  do ảnh hưởng bão số 4, mưa lớn kéo dài trong nhiều ngày, cộng với triều cường nước sông lên cao làm cho 25.118 ha lúa hè thu và hàng trăm ha hoa màu bị ngập úng, hàng ngàn ha tôm cá nuôi bị tràn bờ, 11 tàu khai thác thủy sản bị chìm và nhiều nhà dân bị sập và tốc mái, ảnh hưởng rất lớn đến đời sống sản xuất của người dân.

    Chế độ thủy triều của tỉnh chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ bán nhật triều không đều ở biển Đông và chế độ nhật triều không đều ở biển Tây. Biên độ triều ở biển Đông khá lớn, khoảng 300 - 350 cm vào các ngày triều mạnh và từ 180 - 220 cm vào các ngày triều yếu. Triều biển Tây yếu hơn, biên độ mạnh nhất chỉ khoảng 100 cm. Chế độ thủy triều đưa nguồn nước biển vào trong nội địa, tạo ra môi trường sinh thái để nuôi trồng thủy sản. Tuy nhiên, do chế độ thủy triều chênh lệch của hai vùng biển, nên gây khó khăn cho việc tiêu thoát nước vào mùa mưa ở các "vùng giáp nước". Mùa gió chướng có thể gây ra hiện tượng nước mặn tràn sông vào nội đồng, ảnh hưởng đến sinh hoạt, sản xuất và giao thông.

    Các nguồn cung cấp nước trên địa bàn tỉnh:

    - Nguồn nước ngọt từ sông Hậu đổ về qua các con kênh: Quản Lộ - Phụng Hiệp, Chắc Băng, Bạch Ngưu....phục vụ cho sinh hoạt và sản xuất ở các huyện phía Bắc tỉnh như: huyện Thới Bình, huyện U Minh, huyện Trần Văn Thờithành phố Cà Mau.

    - Nguồn nước mưa là nguồn nước chủ yếu cung cấp cho cây trồng, nuôi trồng thủy sản nước ngọt và một phần cho sinh hoạt. Hiện nay, tại các huyện vùng sâu của tỉnh, người dân thường trữ nước mưa để dùng vào mùa khô.

    - Nguồn nước mặn rất dồi dào, là lợi thế để phát triển ngành nuôi trồng và đánh bắt hải sản. Cần làm tốt công tác thủy lợi để điều tiết hiệu quả nguồn nước này phục vụ các vùng nuôi trồng thủy sản.

    - Nguồn nước ngầm: theo kết quả điều tra của Liên đoàn Bản đồ và Địa chất miền Nam, tổng lượng nước ngầm có thể khai thác ở Cà Mau là 176.330 m3/ngày đêm. Nguồn nước ngầm đáp ứng nhu cầu cung cấp nước sạch cho các khu dân cư, đô thị, đặc biệt là thành phố Cà Mau.

    Vấn đề đặt ra cho Cà Mau là khai thác và sử dụng nguồn tài nguyên nước sao cho hiệu quả, phù hợp với điều kiện và hướng phát triển của từng vùng, từng địa phương và từng giai đoạn. Tránh gây ô nhiễm môi trường nước từ các hoạt động sản xuất và sinh hoạt hằng ngày.

    II. Tài nguyên thiên nhiên

     

    1. Đất đai

     

    Các nhóm đất

     

    mui_ca_mau_500

    Mũi Cà Mau - Ảnh:Phạm  Thanh Duy

    Cà Mau có diện tích đất tự nhiên lớn, 5.331,7 km2, đứng thứ 2 ở khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, sau tỉnh Kiên Giang. Đất Cà Mau rất giàu khoáng tự nhiên và mùn, vật liệu bồi tụ phần lớn giàu sét và cát mịn. Thành phần cơ giới chủ yếu là đất thịt nặng. Quá trình hình thành đất chịu ảnh hưởng của biển, thông qua hệ thống lạch chuyền triều đã làm cho một diện tích lớn của tỉnh bị nhiễm mặn. Tiếp đó là nhân tố địa hình, khí hậu, sinh vật đã tham gia tích cực trong việc hình thành đất phèn, đất than bùn phèn và sau cùng là nhân tố con người.

    Đất đai Cà Mau chia thành 4 nhóm chính như sau:

    - Nhóm đất mặn chiếm khoảng 39,4% diện tích tự nhiên của tỉnh; phân bố chủ yếu ở các huyện: Đầm Dơi, Cái Nước, Ngọc Hiển, Năm Căn, Trần Văn Thời, U Minh, Thới Bình và thành phố Cà Mau. Trong đó, chủ yếu là đất mặn ít, có thể sản xuất 1 - 2 vụ lúa trong năm, trồng cây lâu năm, hoặc nuôi tôm vào mùa khô, trồng lúa 1 vụ vào mùa mưa.

    - Nhóm đất phèn chiếm khoảng 54,6% diện tích đất tự nhiên của tỉnh. Trong đó, đất phèn tiềm tàng chiếm khoảng 36,6% diện tích tự nhiên, phân bố chủ yếu ở các huyện Ngọc Hiển, Đầm Dơi, Cái Nước. Còn lại là đất phần hoạt động, phân bố rải rác ở nhiều nơi.

    - Nhóm đất phèn nhiễm mặn, phân bố ở những vùng ven biển, chiếm khoảng 3,8% diện tích đất tự nhiên của tỉnh. Loại đất này thích hợp trồng rừng ngập mặn kết hợp với nuôi thủy sản.

    - Nhóm đất còn lại chiếm khoảng 2,2% diện tích tự nhiên của tỉnh. Trong đó, đất lầy và than bùn phân bố ở các huyện U Minh, Trần Văn Thời; đất bãi bồi và đất khác phân bố ở các huyện Ngọc Hiển, Năm Căn, Cái Nước và Phú Tân.

    Hiện trạng sử dụng đất

     

    Bảng thống kê hiện trạng sử dụng đất của tỉnh Cà Mau năm 1997 và 2003

     

     

    Tổng diện tích

    (nghìn ha)

    Đất đã sử dụng

    Đất chưa sử dụng và sông suối núi đá

    Đất nông nghiệp

    Đất lâm nghiệp có rừng

    Đất chuyên dùng

    Đất ở

    Diện tích

    (nghìn ha)

    Tỷ lệ

    %

    Diện tích

    (nghìn ha)

    Tỷ lệ

    %

    Diện tích

    (nghìn ha)

    Tỷ lệ

    %

    Diện tích

    (nghìn ha)

    Tỷ lệ

    %

    Diện tích

    (nghìn ha)

    Tỷ lệ

    %

    1997

    521,1

    349,3

    67

    95,3

    18,3

    14,7

    2,8

    5,3

    1,0

    56,5

    10,9

    2003

    521,1

    337,7

    64,8

    121,5

    23,3

    18,9

    3,6

    5,8

    1,1

    37,2

    7,1

    Nguồn: Địa lý các tỉnh và thành phố Việt Nam - Tập 6 - Trang 152 - NXB Giáo dục - 2006


    Bảng thống kê hiện trạng sử dụng đất của tỉnh Cà Mau thời điểm 01-01-2007

     

    Danh mục

    Tổng diện tích

    (nghìn ha)

    Đất nông nghiệp

    (nghìn ha)

    Đất lâm nghiệp

    (nghìn ha)

    Đất chuyên dùng

    (nghìn ha)

    Đất ở

    (nghìn ha)

    Cả nước

    33.121,2

    9.436,2

    14.514,2

    1.433,5

    611,9

    Đồng bằng Sông Cửu Long

    4.060,4

    2.567,3

    349,0

    224,9

    109,3

    Cà Mau

    533,2

    142,1

    104,4

    20,4

    6,7

    Nguồn: Tổng cục Thống kê

    2. Sinh vật

     

    a) Rừng

     

    rung_chim_ca_mau_500

    Chim rừng Cà Mau - Ảnh:Phạm Thanh Duy

    Theo kết quả điều tra tài nguyên rừng năm 1999, tổng diện tích đất rừng ở tỉnh Cà Mau là 121,5 nghìn ha; trong đó, rừng tự nhiên là 32,5 nghìn ha, rừng trồng là 89 nghìn ha. Tổng trữ lượng rừng toàn tỉnh là 2.205701 m3, trong đó rừng tràm là 1.435.757 m3, rừng ngập mặn là 769.994 m3. Ngoài ra, trên các hòn đảo ngoài biển cũng có rừng, diện tích khoảng 583 ha, trữ lượng khoảng 50.520 m3. Theo thông tin từ Tổng cục Thống kê, năm 2007, tổng diện tích rừng của tỉnh Cà Mau là 96,3 nghìn ha, trong đó, diện tích rừng tự nhiên là 8,9 nghìn ha, diện tích rừng trồng là 87,4 nghìn ha. Từ đó có thể thấy, diện tích rừng của tỉnh đã giảm mạnh sau 8 năm, đặc biệt là rừng tự nhiên.

    Nét đặc trưng cơ bản của rừng Cà Mau là có hệ sinh thái rừng ngập nước nằm sâu trong nội địa. Hệ sinh thái rừng ngập nước Cà Mau có diện tích gần 100.000 ha được chia thành 2 vùng: rừng ngập lợ và rừng ngập mặn.

    - Rừng ngập lợ: là thảm rừng hỗn giao được hình thành trên địa bàn ngập úng trong mùa mưa. Thời gian ngập từ 4 đến 5 tháng, bắt đầu từ tháng 7, tháng 8 đến tháng 12, tháng 1 năm sau. Độ ngập sâu thường từ 0,6 đến 1 m. Thảm rừng hỗn giao này gồm một số loài cây có số lượng chiếm ưu thế: tràm, choại, sậy, năng... Loại rừng này tập trung ở Vườn quốc gia U Minh Hạ. Hệ sinh thái này tạo ra tiềm năng để phát triển sản phẩm nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản nước ngọt đa dạng.

    - Rừng ngập mặn với đặc trưng cây đước, cây mắm là chủ yếu ở Vườn quốc gia Mũi Cà Mau, rừng đước Năm Căn và rừng Sác ven biển, chiếm khoảng 77% diện tích rừng ngập mặn ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long, có vai trò phát triển nuôi trồng thủy sản và cân bằng sinh thái. Thảm rừng này phát triển mạnh trở thành những cánh rừng cổ thụ nhờ lớp bồi tụ dày, màu mỡ, nhờ khí hậu xích đạo nóng ẩm quanh năm. Trong rừng có nhiều loài động vật, thực vật phong phú với trữ lượng lớn là đặc sản của rừng ngập nước. Rừng ngập mặn Cà Mau đã có thời đứng hàng thứ hai trên thế giới về diện tích.

    Diện tích rừng ở Cà Mau giảm nhanh trong những năm gần đây chủ yếu do khai thác để phát triển nuôi trồng thủy sản. Trong khoảng 10 năm (1985 – 1995), gần 50 ngàn ha rừng ngập mặn của tỉnh đã bị phá trụi. Điều đáng báo động là nạn tàn phá rừng diễn ra phức tạp và không ngừng gia tăng trong những năm gần đây. Hiện nay, Vườn quốc gia Mũi Cà Mau, rừng phòng hộ ven biển thuộc địa bàn Năm Căn, Ngọc Hiển, khu vực cồn Ông Trang... là những điểm nóng tập trung nạn phá rừng. Trong gần 6 tháng đầu năm 2009, Chi cục Kiểm lâm Cà Mau phối hợp với các ngành hữu quan và địa phương có rừng phát hiện, xử lý 343 vụ vi phạm lâm luật, phá hủy hàng trăm lò hầm than trái phép trên khu vực rừng. Tại Vườn quốc gia Mũi Cà Mau, 6 tháng đầu năm 2009, kiểm lâm đã phát hiện xử lý 70 vụ vi phạm lâm luật, nhưng trên thực tế, con số này còn lớn hơn nhiều và lâm tặc cướp phá tài nguyên rừng bằng những hình thức hết sức tinh vi, chưa có dấu hiệu dừng lại. Điểm nóng phá rừng hiện nay là khu vực cồn cát Trảng Sáo, cồn Ông Trang xã Viên An. Nếu Cà Mau không có biện pháp xử lý, e rằng trong những năm tới đây, diện tích rừng của tỉnh sẽ thu hẹp nhiều hơn nữa.

    b) Sinh vật biển

     

    Cà Mau có bờ biển dài 254 km, chiếm 7,8% chiều dài bờ biển cả nước. Vùng biển của tỉnh rộng 71.000 km2, độ sâu trung bình từ 30 đến 35 m. Vùng biển Cà Mau có nguồn tài nguyên hải sản dồi dào, là 1 trong 4 ngư trường trọng điểm của cả nước. Hải sản ở đây có trữ lượng lớn và phong phú về chủng loại, trong đó có nhiều loại có giá trị kinh tế cao như: tôm, mực, ghẹ, cá hồng, cá sạo, cá thu, cá chim, cá mú. Trữ lượng cá ước tỉnh khoảng 320 nghìn tấn cá nổi, 530 nghìn tấn cá đáy với 661 loài, 319 giống thuộc 138 họ. Vùng mặt nước ven biển có thể nuôi các loại thủy sản có giá trị xuất khẩu cao như: nghêu, sò huyết, tôm sú....

    Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2007, tỉnh Cà Mau có 279,2 nghìn ha diện tích mặt nước nuôi trồng thủy sản; sản lượng thủy sản năm 2007 của tỉnh đạt 296.187 tấn, chiếm 12,5% sản lượng thủy sản của khu vực Đồng bằng Sông Cửu Long, đứng thứ 3 ở khu vực, sau tỉnh Kiên Giangtỉnh An Giang. Tuy nhiên, do sự khai thác không tính đến việc bảo tồn, nguồn tài nguyên biển trên địa bàn tỉnh đang có nguy cơ bi hủy diệt. Hiện nay, tại các cửa biển Cà Mau đang hình thành kiểu đánh bắt bằng xung điện có dòng điện lớn, đủ khả năng diệt sạch các loại cá, tôm và ấu trùng. Cách khai thác nguy hại này đang ngày một phát triển, công suất điện ngày một gia tăng và phạm vi đánh bắt ngày càng lan rộng. Các chuyên gia cảnh báo nguy cơ suy giảm nguồn thủy sản do đánh bắt không khoa học, việc phá vỡ thảm cỏ biển, rong biển, môi trường tự nhiên, đa dạng sinh học đáy biển là hiểm họa khó lường. Nếu điều này không được chấn chỉnh thì vùng biển Cà Mau sẽ cạn kiệt tài nguyên.

    3. Khoáng sản

     

    Vùng đất liền của Cà Mau ít có khoáng sản, ngoài than bùn ở rừng U Minh Hạ. Than bùn U Minh có thể sử dụng làm chất đốt, phân hữu cơ vi sinh và các chế phẩm khác. Nhưng do rừng bị cháy nhiều lần, nên diện tích vùng rừng có than bùn đã giảm đi đáng kể, từ 10.000 ha ngày trước, nay chỉ còn 5.000 - 6.000 ha rừng có tầng than bùn dày.

    Dọc thềm lục địa và ngoài khơi vùng biển Cà Mau có nhiều mỏ khí đốt, có triển vọng khai thác và phát triển công nghiệp dầu khí. Theo dự đoán, trữ lượng khí đốt ở vùng biển Cà Mau đạt khoảng 172 tỷ m3, trong đó đã phát hiện 30 tỷ m3. Khả năng phát triển và khai thác tối đa các mỏ khí dự báo có thể đạt sản lượng khai thác đỉnh là 8,25 tỉ m3/năm. Nhà máy khí điện đạm Cà Mau và khu công nghiệp Khánh An đang được xây dựng, khi đi vào hoạt động sẽ tạo ra sự chuyển biến mới để phát triển công nghiệp của tỉnh, góp phần quan trọng trong việc hình thành tam giác kinh tế Cần Thơ - Cà Mau - Rạch Giá ở vùng Đồng bằng Sông Cửu Long.

    4. Du lịch

     

    a) Tình hình phát triển

     

    Cà Mau là vùng đất tận cùng cực Nam của tổ quốc, được thiên nhiên ưu đãi với rừng và biển, khí hậu ôn hoà, ổn định quanh năm, tỉnh có tiềm năng rất lớn để phát triển du lịch. Tỉnh nằm trong hành lang phát triển kinh tế phía Nam của chương trình hợp tác phát triển tiểu vùng Mêkông mở rộng, có điều kiện thuận lợi trong giao lưu phát triển kinh tế với các nước Đông Nam Á, điều này có ý nghĩa rất quan trọng đối với du lịch Cà Mau. Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá nền kinh tế, du lịch Cà Mau đang từng ngày vươn xa hơn, thu hút du khách trong nước và quốc tế.

    Trong những năm qua, ngành du lịch tỉnh đã có những chuyển biến tích cực cả về lượng và chất, lượng khách trong nước và quốc tế đến Cà Mau ngày càng tăng. Các sản phẩm du lịch ngày càng đa dạng, phong phú hơn, các điểm du lịch mới không ngừng được đưa vào hoạt động. Năm 2000, số lượng du khách đến Cà Mau đạt 99.602 lượt người, tăng gấp 2 lần năm 1995; trong đó, khách quốc tế là 4.000 lượt người. Năm 2003, lượng khách du lịch đến Cà Mau đạt 224.500 người, trong đó khach trong nước chiếm 97,5%, khách nước ngoài chiếm 2,5%. Tổng doanh thu du lịch năm 2000 đạt 77,5 tỷ đồng, tăng gấp 2,2 lần so với năm 1995; năm 2003 đạt 120 tỷ đồng. Năm 2005, lượng khách đến tỉnh Cà Mau đạt 353.569 lượt; trong đó khách quốc tế 9.364 lượt; doanh thu 73,483 tỷ đồng. Năm 2008, lượng khách đến Cà Mau khoảng 670.000 lượt người; trong đó khách quốc tế là 16.000 lượt; doanh thu xã hội từ du lịch đạt 170 tỷ đồng, tăng 131% so với năm 2007. Bảy tháng đầu năm 2009 có 384.450 lượt khách đến Cà Mau, trong đó có 154.410 lượt khách lưu trú.

    Định hướng phát triển du lịch ở Cà Mau là tập trung theo hướng khai thác tiềm năng du lịch sinh thái thành một ngành dịch vụ quan trọng của tỉnh. Theo chương trình phát triển tổng thể du lịch Cà Mau giai đoạn 2005 - 2010 và định hướng đến năm 2020, tỉnh sẽ tập trung triển khai thực hiện các quy hoạch bảo tồn, phát triển Khu du lịch sinh thái quốc gia rừng ngập mặn Mũi Cà Mau, Khu du lịch sinh thái vườn quốc gia U Minh Hạ; phát triển du lịch Cụm đảo Hòn Khoai; đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, vật chất kỹ thuật cần thiết cho ngành du lịch vận hành và phát triển phù hợp với xu thế chung của khu vực và cả nước; trong đó tập trung bảo vệ và tôn tạo tài nguyên môi trường và những giá trị văn hoá sinh thái đặc thù của tỉnh. Phấn đấu đến năm 2010, Cà Mau sẽ đón 796.000 lượt khách, với doanh thu từ du lịch đạt 145 tỷ đồng. Biện pháp trước mắt để khắc phục tình trạng khủng hoảng kinh tế toàn cầu và đại dịch H1N1, Cà Mau sẽ chủ động thúc đẩy xúc tiến du lịch và nâng cao nhận thức xã hội về du lịch, đẩy mạnh quảng bá hình ảnh, tiềm năng của đất và con người Cà Mau.

    Các tuyến điểm du lịch hiện nay:

    - Tuyến Cà Mau - bãi biển Khai Long - cụm đảo Hòn Khoai

    - Tuyến Cà Mau - Đất Mũi - Cồn Ông Trang - Khu đa dạng sinh học lâm ngư trường 184

    - Tuyến Cà Mau - Rạch Gốc - cụm đảo Hòn Khoai

    - Tuyến Cà Mau - Khu công nghiệp mới - Vồ Dơi - Đá Bạc

    - Tuyến Cà Mau - Khánh An - Lâm trường U Minh II - Khánh Hoà - U Minh.

    b) Thắng cảnh


    dao_hon_khoai_500

    Đảo Hòn Khoai - Ảnh:Phạm  Thanh Duy

    Vườn quốc gia U Minh Hạ

    Vườn quốc gia Mũi Cà Mau

    Sân chim Chà Là

    Sân chim Cà Mau

    Sân chim Đầm Dơi

    Sân chim Ngọc Hiển

    Lâm trường 184

    Bãi biển Khai Long

    Cồn Ông Trang

    Đảo Hòn Khoai

    Đảo Hòn Đá Bạc

    Làng rừng Khánh Bình Tây

    c) Di tích

     

    chua_molivonsai_ca_mau_500

    Chùa Munivongsabophavam - Ảnh:Phạm Thanh Duy

    Đình Tân Hưng

    Chùa Monivongsa Bopharam

    Di tích Hồng Anh Thư Quán

    Chùa Quan Âm

    Lăng Ông Nam Hải

    Chùa Bà Thiên Hậu

    Đặc sản

     

    Ba khía Rạch Gốc , Lẩu mắm Hàu tái mù tạt,  Ốc len xào nước dừa

    d) Hành chính hiện nay

     

    thanh_pho_ca_mau_hien_dai_500

    Thành phố Cà Mau - Ảnh:Phạm Thanh Duy

    Hiện nay, Cà Mau có 9 đơn vị hành chính trực thuộc là: thành phố Cà Mau - tỉnh lỵ của tỉnh, huyện Thới Bình, huyện U Minh, huyện Trần Văn Thời, huyện Phú Tân, huyện Cái Nước, huyện Đầm Dơi, huyện Năm Căn, huyện Ngọc Hiển. Trong đó, huyện Đầm Dơi có diện tích lớn nhất, thành phố Cà Mau có diện tích nhỏ nhất. Tổng số đơn vị hành chính cấp xã tại thời điểm 31-12-2007 là 97, trong đó có 8 phường, 8 thị trấn và 81 xã.

    Các cơ quan quản lý cao nhất của tỉnh hiện nay là: Tỉnh ủy, Hội đồng Nhân dân (HĐND) và Ủy ban Nhân dân (UBND):

    - Tỉnh ủy là cơ quan đại diện cho đảng bộ đảng Cộng sản Việt Nam tại tỉnh. Đứng đầu là Bí thư Tỉnh ủy. Quyền hạn và trách nhiệm được quy định theo Điều lệ đảng. Bí thư tỉnh ủy hiện nay là ông Nguyễn Tuấn Khanh. Ông Khanh được Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam bổ nhiệm vai trò Bí thư tỉnh ủy Cà Mau vào ngày 09-09-2008 thay thế cho ông Võ Thanh Bình. Ông Bình trước đó từng giữ chức Bí thư tỉnh ủy kiêm Chủ tịch HĐND tỉnh Cà Mau. Năm 2008, do bê bối trong vụ nhận và nộp tiền chạy chức của cán bộ, Bộ Chính trị đảng Cộng sản Việt Nam đã quyết định cho ông Bình thôi giữ chức Bí thư tỉnh ủy Cà Mau.

    HĐND theo quy định là cơ quan quyền lực nhân dân trong tỉnh, được bầu lên với nhiệm kỳ 5 năm. Đứng đầu cơ quan này là Chủ tịch HĐND. Chủ tịch HĐND tỉnh Cà Mau hiện nay là ông Lê Hồng My. Ông My trước đó là Phó Chủ tịch HĐND tỉnh, được bầu làm Chủ tịch HĐND tỉnh Cà Mau trong kỳ họp bất thường của HĐND tỉnh diễn ra ngày 02-01-2009, thay thế cho ông Võ Thanh Bình. HĐND họp mỗi năm 2 kỳ, tại các kỳ họp này, các đại biểu sẽ bỏ phiếu biểu quyết các vấn đề quan trọng của tỉnh. Hội đồng Nhân dân chịu sự giám sát và hướng dẫn hoạt động của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội, đồng thời chịu sự hướng dẫn và kiểm tra của Chính phủ trong việc thực hiện các văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên theo quy định của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội.

    UBND do Hội đồng nhân dân chọn ra, có trách nhiệm quản lý trực tiếp các vấn đề hành chính, kinh tế, xã hội, văn hoá....của tỉnh nhà. Đứng đầu UBND là Chủ tịch và các phó Chủ tịch, bên dưới là các Sở ban ngành quản lý từng lĩnh vực cụ thể. Chủ tịch UBND tỉnh hiện nay là ông Bùi Công Bửu.

    III. Lịch sử hình thành và phát triển

     

    Là một trong 13 tỉnh miền Tây Nam Bộ, Cà Mau được khai khẩn muộn hơn so với các tỉnh trong khu vực. Đầu thế kỷ XVII, vùng đất Cà Mau dân cư vẫn thưa thớt, đất đai còn hoang vu. Đến cuối thế kỷ XVII, người Việt đã có mặt ở vùng đất này. Năm 1680, một số ấp ở ven sông Bảy Háp, sông Ông Đốc, sông Gành Hào được hình thành. Thời Mạc Cửu, Cà Mau là 1 trong 7 xã đầu tiên được lập nên ở trấn Hà Tiên. Năm 1757, Mạc Thiên Tứ lập đạo Long Xuyên, thuộc trấn Hà Tiên. Năm 1804, đạo Long Xuyên thuộc dinh Vĩnh Trấn. Năm 1808, đạo Long Xuyên đổi thành hu


    Nhắn tin cho tác giả
    Phạm Thanh Duy @ 13:54 04/11/2010
    Số lượt xem: 4402
    Số lượt thích: 0 người
    Avatar
    Thông tin và tư liệu này tôi phải sưu tầm các số liệu và thông tin hết mấy ngày trời đấy các bạn! Tất cả mọi người hãy tham khảo làm tư liệu nhé!+
     
    Gửi ý kiến