Thời gian là vàng

Thanh Duy xin chào

1 khách và 0 thành viên

Mời Thầy cô dùng trà

Tâm sự với Thanh Duy

Tìm kiếm

Danh lam thắng cảnh

Lịch âm dương

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Phạm Thanh Duy)

Hỗ trợ trực tuyến


Quản trị: Phạm Thanh Duy
0914.083.183

Liên kết website

Từ điển trực tuyến


Tra theo từ điển:


Nghe nhạc trực tuyến

Tin tức

Truyện cười

Thời tiết - Giá vàng

Lời hay - Ý đẹp

Liên kết ứng dụng

Bách khoa toàn thư

Website liên kết

Nhiệt độ - Thời gian

Hà Nội
’Hà
Tp Hồ Chí Minh
’Tp
Cà Mau
’Cà

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý thầy cô đến với website Giáo dục và Cuộc sống của Phạm Thanh Duy

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Nhân vật - Sự kiện lịch sử nước nhà >

    Lê Công Hành: Ông tổ nghề thêu


    Ngay từ thế kỉ 1, người Việt đã dệt được vải cát bá mịn, dệt khăn sợi bông thêu chữ nhỏ và các thứ hoa rất khéo, đẹp mắt, gọi là bạch diệp. Thế kỉ 11 – 12 (thời Lý), nghề thêu Việt Nam đã đạt trình độ cao về kĩ thuật và nghệ thuật, số lượng sản phẩm khá lớn. Ở nửa cuối thế kỉ 17 (thời Lê) có Lê Công Hành (1606 - 61), người làng Quất Động, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây đã học được nghề và truyền dạy cho dân thêu theo kĩ thuật Trung Hoa, trở thành ông tổ nghề thêu.

    Lê Công Hành nổi tiếng thông minh từ lúc còn nhỏ, đỗ tiến sĩ vào thời vua Lê Chân Tông. Năm 1646, Lê Công Hành được cử đi sứ Trung Quốc. Do phật ý vua quan Trung Quốc, họ nhốt ông trên một lầu cao, rút thang đi, không cho ai lai vãng, cũng không cho ông ăn uống. Trên lầu có pho tượng Phật, ông nhanh trí bẻ tượng ra ăn nên suốt mấy ngày không bị đói. Trên lầu cao ông tỉ mỉ lấy tấm nghi môn xuống tháo ra rồi đan lại. Ông cẩn thận xem và nhớ kỹ cách thêu thùa. Sau đó ông quan sát mấy chiếc lọng thờ, cũng tháo ra chắp vào, xem xét vải sơn vải lợp, cùng cách lắp cán, lắp chân. Nhờ vậy ông hiểu được cách làm lọng, kỹ thuật thêu của Trung Quốc.

    Mãi không thấy họ cho ra khỏi lầu, ông có sáng kiến lấy hai chiếc lọng kẹp chặt hai bên hông, nhảy ra ngoài xuống đất an toàn. Triều đình Minh đành phải cho ông về nước. Lê Công Hành đã đem kinh nghiệm thu lượm được về thêu lọng dạy cho dân làng Quất Động và sau đó ở nhiều làng khác. Dân các làng thêu ở Hà Nội hành nghề, lập các phường phố, tôn ông làm tổ sư ngành thêu. Có đình chợ thêu tên chữ là Tú Đình Thị, nay còn ở phố Yên Thái, Hà Nội. Ngày 12-6 âm lịch được lấy làm ngày giỗ tổ nghề thêu ở Việt Nam. Ông tổ nghề thêu cũng truyền cả nghề làm lọng cho dân. Phố hàng lọng ở Hà Nội trước đây cũng có đền thờ ông, nhưng nay không còn nữa”.

    Tại lễ tế tổ nghề thêu, sau các nghi lễ thông thường có đọc bài văn cúng tổ sư. Lời văn cũng thể hiện tấm lòng tôn kính của thợ đối với ngài Tổ sư. “Tiên sinh tài cao xuất chúng, trí vượt tiên tri, là vầng trăng sáng Nam Triều, là ngôi sao lành đất Bắc. Lòng tựa gấm, miệng tựa thêu, đã lấy văn chương soi sáng đời thạnh trị, mũi kim, sợi chỉ, lại truyền tinh xảo đến phương Nam. Tài khéo sáng tỏ, ngắm sao Bắc Đẩu, Thái Sơn. Có công thì thờ tự, dù dâu biển cũng chẳng hề quên. Gặp lúc xuân tiết, kính dâng lễ mọn, nguyện soi xét lòng son, ban cho ơn phước lớn. Kính mong thượng hưởng”.

    Tục truyền, trong lần đi sứ sang Trung Quốc. Ngài Lê Công Hành còn xẻ thịt, giấu hạt bắp nếp và đậu xanh mang giống về nước để sản xuất. Nhớ công ơn ấy, trong lễ cúng Tổ, người thợ thêu Huế không bao giờ làm bánh cúng, hoặc chế biến thức ăn cúng giỗ bằng hạt đậu xanh hoặc hạt bắp nếp.


    Nhắn tin cho tác giả
    Phạm Thanh Duy @ 22:30 15/11/2010
    Số lượt xem: 897
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến