Thời gian là vàng

Thanh Duy xin chào

0 khách và 0 thành viên

Mời Thầy cô dùng trà

Tâm sự với Thanh Duy

Tìm kiếm

Danh lam thắng cảnh

Lịch âm dương

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Phạm Thanh Duy)

Hỗ trợ trực tuyến


Quản trị: Phạm Thanh Duy
0914.083.183

Liên kết website

Từ điển trực tuyến


Tra theo từ điển:


Nghe nhạc trực tuyến

Tin tức

Truyện cười

Thời tiết - Giá vàng

Lời hay - Ý đẹp

Liên kết ứng dụng

Bách khoa toàn thư

Website liên kết

Nhiệt độ - Thời gian

Hà Nội
’Hà
Tp Hồ Chí Minh
’Tp
Cà Mau
’Cà

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý thầy cô đến với website Giáo dục và Cuộc sống của Phạm Thanh Duy

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Văn - Thơ - Âm nhạc Việt Nam >

    Hàn Mặc Tử, người lĩnh xướng dàn đồng ca thơ Loạn

    Hàn Mặc Tử, người lĩnh xướng dàn đồng ca thơ Loạn (Nguyễn Thị Quyên)

    Thời kì Thơ mới 1932-1945, trên mảnh đất Bình Định dấy lên một trường thơ mang tên thơ Loạn, do Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan sáng lập... Trong đó, Hàn Mặc Tử luôn xứng đáng là con rồng của nhóm Tứ linh, là vị chúa của Trường thơ Loạn

    Hàn Mặc Tử, người lĩnh xướng dàn đồng ca thơ Loạn (Nguyễn Thị Quyên)

    Thời kì Thơ mới 1932-1945, trên mảnh đất Bình Định dấy lên một trường thơ mang tên thơ Loạn, do Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, Yến Lan sáng lập... Trong đó, Hàn Mặc Tử luôn xứng đáng là con rồng của nhóm Tứ linh, là vị chúa của Trường thơ Loạn.

    Những năm 30 của thế kỷ trước, Thơ mới đương nổi dậy ồ ạt với khuynh hướng lãng mạn. Trường thơ Loạn manh nha từ nhóm thơ Bình Định với những tên tuổi như Hàn Mặc Tử, Quách Tấn, Yến Lan, Chế Lan Viên. Đến năm 1936, nhận thấy tính khuynh hướng nổi trội trong sáng tác của từng người, Hàn Mặc Tử đã chủ trương thành lập trường thơ Loạn. Trường thơ Loạn tìm cho mình một lối đi riêng nghiêng về siêu thực, tượng trưng, huyền ảo... Tôn chỉ mục đích của nó được trình bày trong lời tựa tập thơ Điên (Hàn Mặc Tử) và Điêu tàn (Chế Lan Viên) do hai tác giả tự đề ra, Sau có một số người hưởng ứng dàn đồng ca ấy như: Bích Khê, Hoàng Diệp, Quỳnh Dao... Từ đó, trường thơ Loạn thực hiện cuộc hành trình đi từ âm vang Đường thi đến "thung lũng đau thương”, tràn bờ sang cả những bóng ma Hời trên tháp Chàm u uẩn, rồi chọn cho mình điểm dừng ở cuộc duy tân của Bích Khê. Trường thơ Loạn đã tạo ra những luồng xung lực trái chiều trên con đường để họ gia nhập thi đàn Thơ Mới vốn không ít những chông gai. Kinh qua "những bước thăng trầm”, trường thơ Loạn vẫn khẳng định được vị trí của mình một cách vinh quang nhất.

    Quy Nhơn- Bình Định vốn là vùng đất thiêng, bỗng trở thành vùng đất cực thịnh của văn chương nghệ thuật. Bình Định không phải là nơi khởi phát của phong trào Thơ Mới nhưng lại là nơi hội tụ ánh sáng của những vì tinh tú. Nơi đây tập trung toàn những thi sĩ tầm cỡ. Những vần thơ Chế Lan Viên làm ra đã khiến Hàn Mặc Tử kinh ngạc. Đọc thơ của Chế, Hàn tìm ra được một hướng sáng tác: những bài thơ điên loạn. Trước đó, Hàn đã tìm hiểu rất kỹ trường thơ tượng trưng của Pháp. Sự tồn tại nhiều trường phái khác nhau trong văn học Pháp đã lái sự quan tâm của Hàn theo khuynh hướng thẩm mỹ của sáng tác văn học. Nhà thơ thấy ngay sự thể hiện khuynh hướng ở sáng tác từng người trong nhóm mình. Quách Tấn sáng tác theo khuynh hướng hiện thực cổ điển. Còn Hàn, Chế và Yến Lan thì thuộc khuynh hướng lãng mạn và bắt đầu thiên về địa hạt tượng trưng. Chính sự gần gũi và thống nhất về khuynh hướng giữa Hàn với Chế Lan Viên và Yến Lan đã cho phép nhà thơ nghĩ đến việc xây dựng một trường phái sáng tác trên cơ sở Nhóm thơ Bình Định. Sau đó, tại ngôi nhà số 20 Khải ĐịnhQuy Nhơn, Chế Lan Viên với Yến Lan đến gặp Hàn Mặc Tử. Hàn cho rằng: "Lâu nay chúng ta làm toàn những loại thơ điên loạn, xem ra có đủ nhân tố để dựng một trường thơ, trường thơ Điên loạn. Ừ, mà nó đã có mầm mống từ lâu rồi cái tựa tập Điêu tàn này là tuyên ngôn thứ nhất của chúng ta. Rồi chúng ta sẽ tiếp tục có tuyên ngôn bổ sung khi in tập thơ chung của Trường thơ Loạn”. Từ đó, cái tin Trường thơ Loạn loan truyền ra khắp nơi. Trước đó, Hàn Mặc Tử đã nghiên cứu rất kỹ về trường phái thơ tượng trưng của Pháp. Chàng mong muốn tạo ra một trường phái thơ cho riêng mình. Giờ đây, Chế Lan Viên đã làm lóe lên trong đầu Hàn Mặc Tử cái mà lâu nay đi tìm nhưng chưa thấy. Trước đó, khi Yến Lan hoàn thành bản thảo tập Giếng loạn, Hàn Mặc Tử đã bắt đầu nghĩ đến một thứ thơ "không giống ai”. Bây giờ, đọc thơ của Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử đã tìm ra được một hướng sáng tác: những bài thơ điên loạn. Vì vậy, ngay trong ngày Chế Lan Viên và Yến Lan đem bản in đặc biệt của tập "Điêu tàn” đến cho Hàn Mặc Tử xem, Hàn đã hồ hởi công bố ngay việc thành lập trường thơ Loạn. Từ đó, dưới ngọn cờ của chủ soái Hàn Mặc Tử, các thành viên trong trường thơ Loạn say sưa sáng tác. Có những khi cả nhóm ngẫu hứng đem chăn màn ra bờ biển ở lại suốt đêm để thả hồn theo những vần thơ kỳ dị. Hàn Mặc Tử đương nhiên cũng là người "cai trị” cái vương quốc kỳ dị này. Bài thơ Trường thọ có lẽ là sự tôn xưng ngôi vị:Ta sống mãi với trăng sao gấm vócTrong nắng thơm, trong tiếng nhạc thần bay(…)Chan chứa ý ly tao giây sảng sốtChế Lan Viên quì dâng tràng chuỗi hột/ Cầu chúc tinh hằng chiếu mạng người thơ… Cùng Hàn Mặc Tử "cai trị” Trường thơ Loạn còn có đại tướng quân Chế Lan Viên. Một chúa, một tướng, còn lại chỉ một thần dân là Yến Lan. Về sau, Bích Khê là thần dân thứ hai xin nhập tịch Trường thơ Loạn.

    Trường thơ Loạn bước chân vào thế giới rùng rợn tràn ngập trăng, hồn, máu, bóng ma, sọ người, xương cốt, tinh tủy...: Ta muốn hồn trào ra đầu ngọn bút/ Mỗi hồn thơ đều dính não cân ta/ Bao nét chữ quay cuồng như máu vọt/ Như mê man chết điếng cả làn da (Hàn Mặc Tử). Trường thơ Loạn được Hàn Mặc Tử khởi xướng như cây nấm lạ mọc lên từ nhóm thơ Bình Định. Đó là thế giới của những âm thanh rên rỉ, những linh hồn đớn đau, hoảng hốt. Hàn Mặc Tử như một ánh sao băng xoẹt qua bầu trời với nỗi niềm kinh dị. Dưới sự dìu dắt của Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên đã sừng sững như một tháp Chàm huyền bí trên cánh đồng thơ Bình Định. Yến Lan lặng lẽ lay động lòng người bởi một bến My Lăng u uẩn. Trường thơ Loạn ra đời đã nhanh chóng khẳng định được tài năng độc đáo làm sững sờ biết bao người. Vượt lên trên cuộc đời trần thế, thơ Loạn nối giữa âm phủ với thiên đàng. Hào quang của nó khiến người ta choáng ngợp nhưng cũng không kém sợ hãi hoảng hốt. Phiêu du trong thế giới thơ Loạn người đọc không khỏi ớn lạnh trước tiếng rên rỉ khóc than, mê hoặc bởi muôn thanh âm, sắc màu, hình ảnh tân kỳ. Càng bí ẩn, thơ Loạn càng lay động và mời gọi bước chân chinh phục của độc giả. Trong bài Tựa tập thơ "Điêu tàn” (1937), Chế Lan Viên viết: "Hàn Mặc Tử viết: Làm thơ tức là điên. Tôi thêm: Làm thơ là sự phi thường. Thi sĩ không phải là Người. Nó là Người mơ, Người say, Người điên. Nó là Tiên, là Ma, là Quỷ, là Tinh, là Yêu, Nó thoát Hiện Tại. Nó xáo trộn Dĩ vãng. Nó ôm trùm Tương Lai. Người ta không hiểu được nó vì nó nói những câu vô nghĩa, tuy rằng những cái vô nghĩa hợp lý. Nhưng thường thường nó không nói. Nó gào, nó thét, nó khóc, nó cười. Cái gì của nó cũng tột cùng. Nó gào vỡ sọ, nó thét đứt hầu, nó khóc trào nước mắt, nó cười tràn cả tuỷ là tuỷ. Thế mà có người tự cho là hiểu được nó, rồi đem nó so sánh với Người, và chê nó là giả dối với Người. Với nó, cái gì nó nói đều có cả...”. Là người sáng lập Trường thơ Loạn, Hàn Mặc Tử cũng đã trình bày quan niệm thơ của mình: "...Tôi làm thơ? Nghĩa là tôi nhấn một cung đàn, bấm một đường tơ, rung rinh một làn ánh sáng.... Tôi làm thơ? Nghĩa là tôi yếu đuối quá! Tôi bị cám dỗ, tôi phản bội lại tất cả những gì mà lòng tôi, máu tôi, hồn tôi đều hết sức giữ bí mật. Và cũng có nghĩa là tôi đã mất trí, tôi phát điên. Nàng đánh tôi đau quá, tôi bật ra tiếng khóc, tiếng gào, tiếng rú. Có ai ngăn cản được tiếng lòng tôi!...”. Sau này, Trường thơ Loạn có thêm Bích Khê, thi sĩ cuối mùa của phong trào Thơ mới nhưng lại là "người công dân trung thành của vương quốc” thơ Loạn. Hàn Mặc Tử viết lời giới thiệu cho tập "Tinh huyết” của Bích Khê: "Ta có thể sánh văn thơ của Bích Khê như đóa hoa thần dị...”. Và đem phân chất, ta sẽ thấy thơ chàng gồm có ba tính cách khác nhau: "Thơ tượng trưng, thơ huyền diệu và thơ trụy lạc...Sự điên cuồng ấy khởi phát một phần thiên tài, và ở một phần sự "Đau khổ”.... Hàn Mặc Tử và Bích Khê tiếp nhận toàn diện cả hai khía cạnh của Poe và Baudelaire: trần gian và điạ ngục, sống và chết. Bởi Hàn Mặc Tử và Bích Khê đã sống khổ đau như Poe và Baudelaire, đã trải qua tất cả những kinh hoàng của bệnh tật, họ đã đưa âm nhạc vào thơ, một cách tự nhiên, toàn diện, như những tiếng đời, nhất là thơ Bích Khê, một giàn giao hưởng. Năm 1941, Thi nhân Việt Nam được xuất bản và cái tên Trường thơ Loạn đã xuất hiện: "Trái hẳn với lối thơ tả chân có lối thơ Hàn Mặc Tử - Chế Lan Viên. Cả hai đều chịu rất nặng ảnh hưởng Baudelaire và, qua Baudelaire, ảnh hưởng nhà văn Mỹ Edgar Poe, tác giả Chuyện lạ…Cả hai đều cai trị trường thơ Loạn và chiêu tập một số đồ đệ là Hoàng Diệp, Quỳnh Dao, Xuân Khai (tức Yến Lan)”. Hoài Thanh nhận định: "Tôi đã nghe người ta mạt sát Hàn Mặc Tử nhiều lắm. Có người bảo: Hàn Mặc Tử thơ với thẩn gì, toàn nói nhảm!”. Có người còn nghiêm khắc hơn nữa: "Thơ gì mà rắc rối thế. Mình tưởng có ý nghĩa khuất khúc gì, cứ đọc đi đọc lại hoài, thì ra nó lừa mình!”. Đúng là những vần thơ điên của các thi sĩ đã gây shock cho nhiều người. Nhưng thật ra đó chỉ là một cách giải quyết sự bế tắc trong tư tưởng mà thôi. Hàn Mặc Tử đã dẫn dắt các thi sĩ sáng tác khá nhiều vần thơ kỳ dị cho đến lúc chàng mất vào năm 1941.

    Bởi thế, đọc thơ Hàn, một nhà phê bình tinh tế như Hoài Thanh cũng phần nhiều chịu bó tay. Ông "mệt lả” khi theo Hàn Mặc Tử, với Chế Lan Viên là "niềm kinh dị”, với Bích Khê, đành "kính nhi viễn chi”. Dễ thấy, mỹ cảm của Hoài Thanh là nằm trọn trong chủ nghĩa lãng mạn, không còn phù hợp khi Hàn Mặc Tử cùng các nhà thơ Loạn đã ít nhiều đã vượt biên sang chủ nghĩa tượng trưng...và siêu thực về sau. Trường thơ Loạn ca ngợi vẻ đẹp tự nhiên và con người, gạt bỏ đời sống xã hội trần tục, vươn tới bầu trời chỉ toàn thơ ca. Thế giới nghệ thuật của họ được xây lên từ "trăng, hoa, nhạc, hương” mà thi sĩ là thiên sứ cho thế giới lung linh đó. Thi sĩ là bông hoa hiếm hoi ở đời được ban cho sứ mệnh thiêng liêng tận hưởng châu báu thi ca do chúa trời đem đến cho loài người. Người nghệ sỹ muốn nhận đặc ân đó phải chấp nhận kiếp cô đơn và nỗi đau cùng kiệt. Thi sĩ là trích tiên bị đòa đày trong cõi đời ô trọc. Làm thơ với họ là lúc nỗi đau lên đến tột cùng, linh hồn được sống thật nhất. Linh hồn ấy bơ vơ, lạc lõng giữa dòng đời vô biên và vô lượng. "Thơ là tiếng kê thảm thiết của một linh hồn thương nhớ ước ao trở lại trời là nơi đã sống ngàn kiếp vô thủy vô chung với những hạnh phúc bất tuyệt”. Quan niệm nghệ thuật của trường thơ Loạn có những cách tân và thể hiện quái đản từ vai trò của nhà thơ, đối tượng phản ánh, ngôn từ, nhạc tính, cho đến không gian, thời gian nghệ thuật…Đó là sự tích hợp tính tượng trưng, siêu thực, tôn giáo, thần linh trên nền tảng của chủ nghĩa lãng mạn.

    Việc Hàn Mặc Tử chủ trương trường thơ Loạn khiến văn đàn Thơ mới xôn xao rất lâu. Nhiều người hoan nghênh nhưng những vần thơ ấy cũng đã gây shock cho nhiều người. Nhưng bản chất đó chỉ là một cách giải quyết sự bế tắc trong tư tưởng. Trong không khí tranh luận ấy, Hàn Mặc Tử luôn xứng danh là thủ lĩnh đã dẫn dắt các thi sĩ sáng tác khá nhiều vần thơ kỳ dị cho đến lúc chàng rời bỏ cuộc đời. Năm 1942, Bích Khê vĩnh viễn ra đi, trường thơ Loạn từ đó tan rã.

    NGUYỄN THỊ QUYÊN

    TRUNG TÂM VHTT-TT PHÙ CÁT- BÌNH ĐỊNH


    Nhắn tin cho tác giả
    Phạm Thanh Duy @ 20:32 07/11/2011
    Số lượt xem: 1264
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến