Thời gian là vàng

Thanh Duy xin chào

0 khách và 0 thành viên

Mời Thầy cô dùng trà

Tâm sự với Thanh Duy

Tìm kiếm

Danh lam thắng cảnh

Lịch âm dương

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Phạm Thanh Duy)

Hỗ trợ trực tuyến


Quản trị: Phạm Thanh Duy
0914.083.183

Liên kết website

Từ điển trực tuyến


Tra theo từ điển:


Nghe nhạc trực tuyến

Tin tức

Truyện cười

Thời tiết - Giá vàng

Lời hay - Ý đẹp

Liên kết ứng dụng

Bách khoa toàn thư

Website liên kết

Nhiệt độ - Thời gian

Hà Nội
’Hà
Tp Hồ Chí Minh
’Tp
Cà Mau
’Cà

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý thầy cô đến với website Giáo dục và Cuộc sống của Phạm Thanh Duy

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Văn hóa - Phong tục - Tập quán >

    "CỦI HỨA HÔN" VÀ TỤC CƯỚI HỎI CỦA NGƯỜI GIẺ


    Dọc hai bên đường Hồ Chí Minh lịch sử, đoạn qua huyện Đắc Glây (Kon Tum), chúng ta dễ nhận thấy rất nhiều gia đình có những đống củi được cắt bằng nhau, xếp ngay ngắn ở đầu nhà, hoặc trước sân và được che chắn cẩn thận. Đấy là "củi hứa hôn" của các cô gái dân tộc Giẻ.

    Để tìm hiểu rõ hơn về những đống củi này, chúng tôi đã tìm gặp một số già làng hiểu biết về phong tục, tập quán của người Giẻ. Theo phong tục, khi cô gái đã đến tuổi cập kê, đã nhận lời một chàng trai nào đó mà mình ưng ý (sắp lấy chồng), các cô gái thường lên rừng tìm những thân cây chất liệu tốt, đượm than, suôn và thẳng (tốt nhất là thân cây dẻ) đốn bằng nhau, phơi khô và cõng về nhà để chuẩn bị "ngày lành tháng tốt" cõng đến nhà trai. Số lượng củi thường là 100 bó, chiều dài 1 mét và đường kính bó củi từ 40 đến 50cm. Phía nhà trai cũng tích cực chuẩn bị thịt chuột, thịt chim phơi hoặc sấy khô (nguyên cả con) để tiếp đón nhà gái khi cõng củi đến cho mình. Số lượng chuột và chim tùy theo từng gia đình, nhưng thường thì cỡ 60 đến 70 con.
    Trong thời gian đôi trai gái tìm hiểu nhau, một người có uy tín trong làng, không có họ hàng với hai gia đình chuẩn bị lễ vật đứng ra làm mai mối. Lễ vật bao gồm: Một hũ rượu nhỏ, hai chiếc cần (ống hút) để uống đem đến nhà trai hoặc nhà gái do người mai mối chọn (thường thì nhà chàng trai) và gọi người con gái đến cùng uống rượu. Sau khi đôi trẻ đã uống, cha mẹ của chàng trai sau đó là người mai mối cùng uống rượu chung vui. Cũng trong thời gian uống rượu và trò chuyện, người mai mối trình bày nội dung của buổi uống rượu hôm đó. Khi hũ rượu đã được uống cạn, cũng là lúc đôi trai gái thành vợ thành chồng. Và, tất nhiên đêm về đôi trai gái được phép ngủ chung. Tuy là vợ chồng của nhau, được ngủ chung trong chiếc buồng nhỏ dành cho họ, nhưng trong thời gian một năm ngủ chung ấy, người con gái không được phép có bầu. Nếu vi phạm quy định, người con gái mang thai khi chưa đủ một năm chung sống, đôi trai gái ấy phải chịu "hình phạt" của làng, sẽ bị đuổi ra xa cách làng hơn 2km, tự làm lều để ở và cũng không được ai quan tâm thăm hỏi đến họ. Nếu ai đến đó sẽ bị lây và mang theo tật xấu về làng...

    Kể từ ngày đôi trai gái bị đuổi, nếu trong làng có ai bị đau ốm, bệnh tật hoặc do sơ ý gây nên tai nạn, gãy chân, gãy tay hoặc mất mát của cải v.v. gia đình nạn nhân và cả làng đổ lỗi cho đôi trai gái ấy. Tất nhiên họ phải bồi thường thiệt hại do họ gây nên là một con trâu, ít nhất cũng phải một con lợn hơn 50kg... do họ đã vi phạm luật của "thần nước", "thần đất", "thần lúa" nên bà con trong làng bị "thần" phạt.
    Và cũng kể từ khi bị đuổi khỏi làng sống cách ly với bà con, cho đến khi con họ sinh ra được trên ba tháng mới được làm lễ "Tạ lỗi" và quay về chung sống với dân làng. Lễ vật bao gồm lương thực, thực phẩm phục vụ buổi lễ, kèm theo hai con lợn. Một con dùng để bồi thường uy tín cho già làng, giết thịt cho những người cao tuổi trong làng ăn. Một con dùng cho dân làng ăn mừng "đứa con mới" của đôi trai gái.
    Trở lại chuyện về những bó củi "Hứa hôn" của người con gái. Trong thời gian một năm đến ngủ chung ở nhà chồng, cô gái thường lên rừng cõng củi về cho gia đình chàng trai. Thỉnh thoảng, tự tay mình giã gạo mang đến cho "người yêu". Những người trong gia đình cô gái cũng giúp cô cõng củi về nhà tập kết và che chắn cẩn thận. Đến một ngày được xem là "ngày lành tháng tốt", nhà gái cử người đến báo với nhà trai và tập trung họ hàng cõng củi đến nhà trai (chỉ cho phép cõng trong một ngày). Nếu gia đình nhà trai đã đi lên nương rẫy, đích thị chàng trai phải lên nương tìm gọi bằng được họ hàng về để tiếp đón nhà gái. Không chỉ cõng củi cho gia đình chồng, mà nhà gái phải cõng cho anh chị ruột của chồng, là những người đã xây dựng gia đình ra ở riêng mỗi người 20 đến 30 bó củi. Đáp lại tình cảm của họ hàng nhà gái, gia đình chàng trai cũng tập trung anh em lại, giã gạo, thổi cơm mời những người cõng củi ở lại "dự tiệc". Ngoài ra, mỗi người tham gia cõng củi, đều được nhà trai "tặng" một bộ áo quần, ít nhất cũng được một cái Kà Tu. Riêng anh em ruột của cô gái thì nhất thiết phải đủ mỗi người một bộ.
    Sau ngày nhà gái đã cõng củi đến nhà trai, gia đình chàng trai chuẩn bị làm cơm mời nhà gái đến "dự tiệc", để cảm ơn nhà gái đã cõng củi cho gia đình. Khi đến mời gia đình nhà gái dùng cơm, phải mang theo lễ vật là những chú chuột, chú chim đã được sấy khô chuẩn bị từ những ngày trước. Số lượng từ 60 đến 70 con tùy thuộc vào nhà trai. Sau hôm cõng củi và lễ mời cơm ấy, họ hàng hai bên mới chính thức trở hành "sui gia", tiếp tục đi lại thăm hỏi nhau theo phong tục của người Việt Nam.


    Nhắn tin cho tác giả
    Phạm Thanh Duy @ 19:20 08/11/2011
    Số lượt xem: 600
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến