Thời gian là vàng

Thanh Duy xin chào

0 khách và 0 thành viên

Mời Thầy cô dùng trà

Tâm sự với Thanh Duy

Tìm kiếm

Danh lam thắng cảnh

Lịch âm dương

Tài nguyên dạy học

Hỗ trợ trực tuyến

  • (Phạm Thanh Duy)

Hỗ trợ trực tuyến


Quản trị: Phạm Thanh Duy
0914.083.183

Liên kết website

Từ điển trực tuyến


Tra theo từ điển:


Nghe nhạc trực tuyến

Tin tức

Truyện cười

Thời tiết - Giá vàng

Lời hay - Ý đẹp

Liên kết ứng dụng

Bách khoa toàn thư

Website liên kết

Nhiệt độ - Thời gian

Hà Nội
’Hà
Tp Hồ Chí Minh
’Tp
Cà Mau
’Cà

Điều tra ý kiến

Bạn thấy trang này như thế nào?
Đẹp
Đơn điệu
Bình thường
Ý kiến khác

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Chào mừng quý thầy cô đến với website Giáo dục và Cuộc sống của Phạm Thanh Duy

    Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tài liệu của Thư viện về máy tính của mình.
    Nếu chưa đăng ký, hãy nhấn vào chữ ĐK thành viên ở phía bên trái, hoặc xem phim hướng dẫn tại đây
    Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay phía bên trái.
    Gốc > Những vị thuốc quanh ta >

    Cây dướng chữa bệnh tiết niệu

    Cây dướng mọc hoang khắp nơi ở miền Bắc đất nước ta. Cây dướng có tên khoa học Broussonedia Papyrifera (L) Vent. thuộc họ dâu tằm (Moraceae). Nhiều bộ phận của cây dướng được dùng làm thuốc phòng chữa bệnh đặc biệt nhóm bệnh thận của Đông y.

     Ảnh: minh họa - Internet

    Sau khi hái quả về ngâm nước 3 ngày, quấy lên, vứt bỏ quả nổi, sau đó phơi khô, ngâm với rượu một lúc rồi nấu. Nấu xong phơi khô dùng dần. Quả dướng Đông y gọi là chử thực tử. Vào 2 kinh: tâm, tỳ. Có vị ngọt, mát, thanh can, bổ thận, mạnh gân cốt, sáng mắt. Dùng tốt cho người có tuổi. Liều dùng hằng ngày 8-10g quả chín phơi âm can hay sấy khô ngâm rượu uống. Có nơi dùng nấu nước chè, cháo, cao..

    Một số cách dùng cây dướng chữa bệnh

    Bổ thận tráng dương: có thể ngâm rượu. Thường được phối hợp thêm các vị thuốc bổ thận khác như đỗ trọng, câu kỷ tử, ngưu tất, ngũ vị tử, ba kích, hà thủ ô...

    Già yếu, tiểu nhiều, chân phù: quả dướng 12g, phục linh 10g, đỗ trọng 10g, câu kỷ tử 10g, ngưu tất 8g, tiểu hồi hương 3g, bạch truật 10g. Nước 3 bát sắc còn 1 bát. Uống ngày 3 lần trước bữa ăn 30 phút.

    Lưng gối mỏi, nóng trong xương, sưng mộng răng: quả dướng 9-15g. Sắc uống.

    Đau nhức cơ xương khớp: lá dướng bánh tẻ tươi ăn như món rau hằng ngày.

    Lợi tiểu tiêu phù:

    lá dướng nấu lấy nước đặc cô thành cao. Mỗi lần uống một chén nhỏ hòa với nước ấm, uống vào lúc đói. Ngày 3 lần.

    Chữa đái đục: lá dướng sấy khô, tán bột luyện hồ làm viên bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 50 viên với nước ấm (Namdược thần hiệu).

    Phù toàn thân: vỏ thân cây dướng cạo bỏ lớp bẩn bên ngoài, rửa sạch, thái mỏng, phơi khô. Khi dùng lấy 12g dược liệu phối hợp mộc thông 12g, phục linh 12g, vỏ rễ dâu 4g, vỏ quýt khô 4g, gừng 3 lát. Sắc với 400ml nước còn 100ml. Chia 2 lần uống trong ngày (Namdược thần hiệu).

    Gan nóng sinh mắt vàng: quả dướng nghiền, lọc lấy nước, uống sau bữa ăn.

    Mắt mờ, nhức mỏi: quả dướng 500g, hoa kinh giới 500g, nghiền nhỏ hoàn mật bằng đầu ngón tay trỏ. Uống mỗi lần 1 viên với nước sắc lá bạc hà loãng.

    Kinh nguyệt không đều và kéo dài: vỏ dướng 8-10g sao cháy. Uống với nước hòa ít rượu. Chia 2 lần uống.

    Kiết lỵ: lá dướng tươi (bánh tẻ) 20g, rửa sạch giã nhỏ thêm nước gạn lấy 10ml, thân rễ seo gà 20g, thái nhỏ sắc với 200ml nước còn 50ml. Trộn 2 nước (lá và rễ) uống làm một lần trong ngày. Dùng liền 5 ngày.

    Chữa mụn nhọt, vết đốt: lấy lá, quả dướng tươi giã đắp hoặc lấy nhựa lá để bôi.

    Chảy máu cam: lá dướng tươi giã vắt lấy nước uống trong ngày.

    Bị đâm chém chảy máu: quả dướng giã đắp.

    Thổ huyết, tử cung xuất huyết: lá dướng tươi 50-100g giã vắt lấy nước uống.

    Nhiễm nấm, hắc lào, lang ben, chàm: lấy mủ nhựa để bôi (tránh vùng mắt) hoặc giã nhuyễn lá, quả để bôi đắp. Lở ngứa ghẻ đun nước các bộ phận của cây dướng (tươi tốt hơn khô) để tắm, rửa, ngâm…

    Cảm sốt: lá dướng nấu để xông.

    Trẻ em táo bón: Để nhuận tràng cho trẻ lấy lá non bánh tẻ nấu canh cho trẻ ăn hoặc quả chín nấu nước uống.

    (Theo BS.Hoàng Thuần // Sức khỏe & Đời sống)


    Nhắn tin cho tác giả
    Phạm Thanh Duy @ 19:33 07/11/2011
    Số lượt xem: 545
    Số lượt thích: 0 người
     
    Gửi ý kiến